Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THỐT NỐT

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2024/HS-ST.

Ngày: 27-8-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NÓT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mộng Tuyền.

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Tăng Tài Thủ

- Bà Trần Thúy Kiên.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Gia Hân – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Đặng Minh Thiện - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự đã thụ lý số 60/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Lăng Hồng T, sinh ngày 01/01/1983; nơi đăng ký thường trú: khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lăng Văn N, sinh năm 1964 và bà Lê Thị N1, sinh năm 1962; Vợ: Lê Thị Yến N2, sinh năm 1987; con: có 01 người, sinh năm 2007; tiền sự: chưa; tiền án: 01 lần. Vào ngày 01/4/2021 bị Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 04/12/2021; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 17/4/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an quận T, thành phố Cần Thơ. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Bị hại:

1/ Ông Lê Hoàng K – sinh năm 1978. Địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Có mặt.

2/ Ông Trần Văn N3 – sinh năm 1988. Địa chỉ: khu V, phường L, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị N1 – sinh năm 1962. Địa chỉ: khu vực T. ường"phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Xin xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng:

1/ Ông Châu Thành Đ – sinh năm 1990.

2/ Bà Trương Thị M – sinh năm 1987.

Cùng địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ, ngày 10/9/2023, Lăng Hồng T, Lê Hoàng K (N4), Trần Văn N3 và Châu Thành Đ nhậu tại quán Ú của Châu Thành Đ và vợ là Trương Thị M làm chủ quán thuộc khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Trong lúc nhậu K dùng khuỷu tay phải chấn vào vùng lưng của T với mục đích là đùa giỡn nhưng làm T bị đau nên T cho rằng K cố ý đánh T, dẫn đến cự cãi; T đi đến tủ để đồ ăn quán Đ lấy một cây dao dài 31cm, cán bằng nhựa, lưỡi bằng kim loại cầm trên tay đến chém một nhát vào vùng cằm của K, K bỏ chạy; T tiếp tục cầm dao chém một nhát vào vùng đầu và một nhát vào vùng mặt của N3 gây thương tích thì được mọi người can ngăn, Đ giật lấy con dao lại từ trên tay T và đưa Khôn cùng Nghiêm đến Bệnh viện Đ1 điều trị vết thương còn T đi về nhà.

Sau khi sự việc xảy ra, Công an phường T đến hiện trường và tạm giữ: 01 (một) Cây dao (có chiều dài khoảng 31cm, cán dao dài 11cm và lưỡi dao dài 20cm). (Bút lục số 05).

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 666/KLTTCT-TTPYCT ngày 13/10/2023, của Trung tâm pháp y Sở y tế thành phố C đối với ông Lê Hoàng K (Bút lục số 71 – 72), kết luận:

- Chấn thương vùng đầu đã được điều trị. Hiện tại vùng đầu không còn vết tích trên da, không ảnh hưởng chức năng.

- Vết thương vùng giữa cằm đã được điều trị. Hiện tại vết thương đã lành sẹo, không ảnh hưởng chức năng.

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2029 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Lê Hoàng K tại thời điểm giám định là: 03% (Ba phần trăm).

Tại Bản kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 255/KLTTCT-TTPYCT ngày 24/5/2024, của Trung tâm pháp y Sở y tế thành phố C đối với ông Lê Hoàng K, kết luận:

- Chấn thương vùng đầu đã được điều trị. Tại thời điểm giám định ngày 5/10/2023 vùng đầu không còn vết tích trên da, không ảnh hưởng chức năng có tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 00% (Không phần trăm).

- Vết thương vùng giữa cằm đã được điều trị. Tại thời điểm giám định ngày 5/10/2023 vết thương đã lành sẹo, không ảnh hưởng chức năng có tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 03% (Ba phần trăm).

Cơ chế hình thành các vết thương: Chấn thương vùng đầu của ông Lê Hoàng K phù hợp với cơ chế do vật tày gây nên; Vết thương vùng giữa cằm trên người của ông Lê Hoàng K phù hợp với cơ chế do vật sắc gây nên. (Bút số lục 75).

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 690/KLTTCT-TTPYCT ngày 24/10/2023, của Trung tâm pháp y Sở y tế thành phố C đối với ông Trần Văn N3 (Bút số lục 82 – 83), kết luận:

- Vết thương vùng trán trái gây mẻ bản ngoài xương sọ trán trái đã được điều trị. Hiện vết thương đã lành sẹo, vị trí mẻ xương chưa can liền không ảnh hưởng chức năng.

- Vết thương không liên tục kéo dài từ mi trên mắt phải qua mũi đã được điều trị. Hiện tại vết thương đã lành sẹo, không ảnh hưởng chức năng.

- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2029 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Trần Văn N3 tại thời điểm giám định là: 14% (Mười bốn phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Do vết sẹo vùng gò má trái không được ghi nhận trong hồ sơ bệnh án và giấy chứng nhận thương tích nên không có cơ sở để cho tỷ lệ tổn thương.

Tại Bản kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 290/KLTTCT-TTPYCT ngày 17/6/2024, của Trung tâm pháp y Sở y tế thành phố C đối với ông Trần Văn N3, kết luận:

- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2029 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tương tích vết thương ở vùng gò má trái của ông Trần Văn N3 tại thời điểm giám định bổ sung là: 03% (Ba phần trăm).

- Tỷ lệ thương tích của từng vết thương trên người ông Trần Văn N3 (theo Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 690/KLTTCT-TTPYCT ngày 24/10/2023, của Trung tâm pháp y Sở y tế thành phố C:

+ Vết thương vùng trán trái gây mẻ bản ngoài xương sọ trán trái, có tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 09 % (Chín phần trăm).

+ Vết thương không liên tục kéo dài từ mi trên mắt phải qua mũi, có tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 06% (Sáu phần trăm).

- Tổng tỷ lệ của hai lần giám định là: 17% (Mười bảy phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Cơ chế hình thành vết thương: Thương tích gây nên của ông Trần Văn N3 tại thời điểm giám định phù với với cơ chế do vật sắc gây nên. (Bút số lục 87 – 88).

Căn cứ Kết luận giám định vật gây thương tích số 33/KLVGTT-TTPYCT ngày 22/5/2024 của Trung tâm pháp Y thành phố C, đối với con dao thu giữ kết luận: mẫu vật giám định (phần lưỡi dao) có thể gây ra vết thương vùng giữa cằm và không thể gây ra chấn thương vùng đầu của ông Lê Hoàng K.

- Căn cứ Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17 tháng 4 năm 2003 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xác định mẫu vật giám định (con dao) là hung khí nguy hiểm. (Bút lục 95 – 96).

Căn cứ Kết luận giám định vật gây thương tích số 38/KLVGTT-TTPYCT ngày 18/6/2024 của Trung tâm pháp Y thành phố C, đối với con dao thu giữ kết luận: xác định mẫu vật giám định (phần lưỡi dao) có thể gây ra được thương tích trên người của ông Trần Văn N3. (Bút lục số 98 – 99).

Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định thương tích.

Về tang vật: Cơ quan điều tra tạm giữ và đã chuyển đến Chi cục thi hành án bảo quản theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Hoàng K yêu cầu bồi thường số tiền 3.500.000 đồng và bị hại Trần Văn N3 yêu cầu bồi thường số tiền 10.000.000 đồng. Lăng Hồng T đồng ý bồi thường số tiền mà các bị hại ông K và ông N3 yêu cầu. Đại diện gia đình bà Lê Thị N1 là mẹ của T đã bồi thường cho KN3 mỗi người số tiền là 500.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 75/CT-VKSTN ngày 25/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo Lăng Hồng T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự).

Tại phiên tòa,

Bị cáo Lăng Hồng T đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo không ý kiến gì khác.

Các bị hại ông Lê Hoàng K và ông Trần Văn N3 vẫn giữ ý kiến như đã trình bày trong quá trình điều tra. Ngoài ra, các bị hại còn có ý kiến xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố, không bổ sung gì thêm, đồng thời phát biểu quan điểm luận tội phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trên cơ sở đó đề nghị tuyên bị cáo Lăng Hồng T phạm tội “Cố ý gây thương tích".

- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lăng Hồng T từ 03 đến 04 năm tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015: Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và các bị hại, bị cáo có trách nhiệm bồi thường chi phí điều trị thương tích cho bị hại ông Lê Hoàng K số tiền 3.500.000 đồng và bồi thường cho bị hại ông Trần Văn N3 số tiền 10.000.000 đồng. Đại diện gia đình bà Lê Thị N1 là mẹ của bị cáo đã bồi thường cho ông K và ông N3 mỗi người số tiền 500.000 đồng nên bị cáo còn có trách nhiệm bồi thường số tiền còn lại cho các bị hại ông K là 3.000.000 đồng và ông N3 là 9.500.000 đồng.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) Cây dao có chiều dài khoảng 31cm, cán dao bằng nhựa dài 11cm và lưỡi dao bằng kim loại dài 20cm, đã qua sử dụng do đây là công cụ sử dụng vào việc phạm tội.

Bị cáo không tham gia tranh luận, đồng thời bị cáo nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về đoàn tụ với gia đình, phấn đấu sống có ích.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng đều không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt. Xét, trong điều tra đã thu thập rõ lời khai của những người vắng mặt nêu trên, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lại lời khai của người vắng mặt tại Toà. Do đó, việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về hành vi, căn cứ xác định tội phạm: Xét, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và vụ án còn được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ khác đã được thẩm tra tại phiên tòa như các biên bản về hoạt động điều tra, biên bản ghi lời khai người bị hại, người liên quan, người làm chứng và kết luận giám định. Như vậy có cơ sở để xác định, vào ngày 10/9/2023 bị cáo Lăng Hồng T đã có hành vi dùng con dao có chiều dài khoảng 31cm (cán dao dài 11cm và lưỡi dao dài 20cm) là hung khí nguy hiểm chém một nhát trúng vào vùng cằm của bị hại Lê Hoàng K gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 3% và chém hai nhát trúng vào vùng trán và vùng mặt của bị hại Trần Văn N3 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 17%. Hành vi sai trái mà bị cáo T thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Sức khỏe, tính mạng con người được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, mọi hành vi xâm hại đều phải bị xử lý theo quy định. Xét, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận biết rõ dao là loại hung khí nguy hiểm có khả năng gây sát thương rất cao. Tuy nhiên, chỉ vì tức giận việc bị hại K có hành vi dùng khuỷu tay phải chấn vào vùng lưng của bị cáo và do trong lúc cơ thể đã có sử dụng bia không kiềm chế được bản thân nên bị cáo đã dùng dao chém gây thương tích cho các bị hại. Hành vi mà bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đồng thời còn gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Do đó, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời đời sống xã hội một thời gian tương xứng để đảm bảo tác dụng giáo dục bị cáo cũng như răn đe, phòng ngừa chung.

[5] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, vào ngày 01/4/2021 bị Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 04/12/2021 đến nay chưa được xóa án tích.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Do bị cáo có một tiền án chưa được xóa, đến ngày 10/9/2023 bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội cầm dao chém gây thương tích cho các bị hại ông K và ông N3 với lỗi cố ý nên bị cáo phải gánh chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi lượng hình Hội đồng xét xử có cân nhắc đến thái độ khai báo của bị cáo trong điều tra và tại phiên toà có thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo đã nhận thức được việc làm sai trái của bản thân nên vận động gia đình bồi thường khắc phục một phần hậu quả cho các bị hại, và tại phiên tòa các bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo tốt.

[8] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Về tình tiết khác: Đối với Lê Hoàng K có hành vi dùng khuỷu tay chấn vào vùng lưng của Lăng Hồng T, nhưng do T không yêu cầu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý là phù hợp vì vậy Hội đồng xét xử không xét đến.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ: Điểm g khoản 2 Điều 260 Bộ luật tố tụng hình sự.

* Tuyên bố: Bị cáo Lăng Hồng T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Lăng Hồng T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 17/4/2024.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015: Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và các bị hại, bị cáo Lăng Hồng T có trách nhiệm bồi thường chi phí điều trị thương tích cho bị hại ông Lê Hoàng K số tiền 3.500.000 đồng; bồi thường cho bị hại ông Trần Văn N3 số tiền 10.000.000 đồng. Xác nhận bà Lê Thị N1 (mẹ bị cáo) đã bồi thường cho bị hại KN3 mỗi người 500.000 đồng, bị cáo T còn phải bồi thường số tiền còn lại cho các bị hại Khôn là 3.000.000₫ (Ba triệu đồng) và bị hại N3 là 9.500.000₫ (Chín triệu năm trăm ngàn đồng).

Về thời gian và phương thức thanh toán được giải quyết tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) Cây dao có chiều dài khoảng 31cm, cán dao bằng nhựa dài 11cm và lưỡi dao bằng kim loại dài 20cm, đã qua sử dụng.

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lăng Hồng T phải nộp số tiền 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm tại Chi Cục Thi hành án Dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

- Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, bị hại biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án . Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

- Về quyền, nghĩa vụ và và thời hạn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Cần Thơ;
  • - VKSND quận Thốt Nốt
  • - Công an quận Thốt Nốt;
  • - Cơ quan THA quận Thốt Nốt;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Huỳnh Thị Mộng Tuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ về cố ý gây thương tích (hình sự)

  • Số bản án: 76/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ăn cứ: điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Căn cứ: Điểm g khoản 2 Điều 260 Bộ luật tố tụng hình sự. * Tuyên bố: Bị cáo Lăng Hồng T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt: Bị cáo Lăng Hồng T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 17/4/2024.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger