|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 76/2023/HS-ST
Ngày 26 tháng 12 năm 2023.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triều.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thường và bà Nguyễn Thị Ngọc Hà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 74/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2023, đối với bị cáo:
Trịnh Tấn T, sinh năm 1994. Nơi cư trú: khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn L, sinh năm 1951 và bà Trần Thị P, sinh năm 1955; anh chị em ruột có sáu người, bị cáo là người thứ sáu; bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền sự: Ngày 14/02/2022, bị Ủy ban nhân dân thị trấn Ó, huyện T xử phạt vi phạm hành chính 2.000.000 đồng về hành vi đánh bạc, đã nộp phạt vào ngày 25/4/2022.
Tiền án: Không.
Bị cáo tại ngoại.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trịnh Văn L, sinh năm 1951. Nơi cư trú: khóm T, thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt)
Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Ngọc L1, sinh năm 1988 (vắng mặt)
- Anh Hồ Văn Vũ P1, sinh năm 1988 (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Quốc T1, sinh năm 1985 (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 14/02/2022, Trịnh Tấn T bị Ủy ban nhân dân thị trấn Ó, huyện T xử phạt vi phạm hành chính 2.000.000 đồng về hành vi đánh bạc, T nộp phạt ngày 25/4/2022.
Khoảng 21 giờ ngày 06/01/2023, Trịnh Tấn T cùng Nguyễn Ngọc L1, Hồ Văn Vũ P1, Nguyễn Quốc T1 đến khu vực khảo cổ Gò Út T2 ở khóm T, thị trấn Ó, huyện T thấy khoảng 10 người không rõ họ tên, địa chỉ đang đánh bạc dưới hình thức chơi lắc tài xỉu được thua bằng tiền. Lúc này, T, L1, P1 và T1 rủ nhau vào đánh bạc và sòng tài xỉu quy định mỗi ván đặt cược từ 10.000 đồng đến 50.000 đồng. Cả nhóm đánh bạc đến khoảng 22 giờ cùng ngày, khi cược đến ván thứ 05; L1 thua 80.000 đồng, P1 thua 100.000 đồng, T1 thua 200.000 đồng và T thua 100.000 đồng thì bị lực lượng Công an thị trấn Ó1 phát hiện nên tất cả những người chơi đánh bạc bỏ chạy thoát. Lực lượng tiến hành thu giữ trên chiếu bạc tiền Việt Nam 150.000 đồng.
Biết hành vi bị phát hiện, các ngày 24, 25 và 27/3/2023, Nguyễn Ngọc L1, Hồ Văn Vũ P1, Nguyễn Quốc T1 và Trịnh Tấn T đến Công an thị trấn Ó1 đầu thú.
Vật chứng và tài sản thu giữ gồm: 01 cái dĩa sứ; 01 nắp nhựa; 03 hột xí ngầu; 01 xe mô tô biển số 67S1-5727, nhãn hiệu Yamaha, số loại TAURUS; 01 xe mô tô biển số 67M1-059.26, nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX; 01 xe mô tô biển số 67M1-363.42, nhãn hiệu Honda, loại AIRBLADE; 01 xe mô tô biển số 68M3-3142, nhãn hiệu ZX và tiền Việt Nam 150.000 đồng.
Các ngày 30, 31/3/2023 và 12/10/2023, Công an thị trấn Ó1, huyện T đã trao trả xe mô tô biển số 67M1-059.26 cho Nguyễn Ngọc L1; xe mô tô biển số 67M1-363.42 cho Hồ Văn Vũ P1; xe mô tô biển số 68M3-3142 cho Nguyễn Quốc T1.
Những người làm chứng các anh Nguyễn Ngọc L1, Hồ Văn Vũ P1, Nguyễn Quốc T1 trình bày như nội dung vụ án đã nêu. Xe mô tô biển số 67S1-5727 bị tạm giữ là của cha T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trịnh Văn L (cha của T) cho biết, xe mô tô biển số 67S1-5727 do L đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô. Ngày 06/01/2023, T sử dụng xe để đi đánh bạc L không biết, L yêu cầu xem xét cho nhận lại xe.
Tại Bản cáo trạng số 79/CT-VKS-HS ngày 06/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Trịnh Tấn T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng, vật chứng thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Kiểm sát viên phát biểu luận tội đối với bị cáo và giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015;
Đề nghị xử phạt bị cáo Trịnh Tấn T mức án từ 06 tháng đến 01 năm tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đến 02 năm.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có thu nhập ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
Nói lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn truy tố và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong vụ án này; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sau khi vụ án xảy ra những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của họ trước tòa. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai những người tham gia tố tụng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Có đầy đủ căn cứ xác định:
Bị cáo Trịnh Tấn T đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, đã nộp phạt vào ngày 25/4/2022. Ngày 06/01/2023, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc (lắc tài xỉu được thua bằng tiền) với số tiền 100.000 đồng.
Căn cứ vào quy định của pháp luật, hành vi của bị cáo Trịnh Tấn T đã phạm vào tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
[3] Xét về tính chất vụ án thì thấy:
Bị cáo đứng trước phiên tòa là người đã trưởng thành, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì lười biếng lao động, ham mê cờ bạc, bị cáo đã vấn thân vào con đường phạm tội.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn xã hội, gây mất trật tự trị an, là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác.
Xét về nhân thân bị cáo thì thấy, bị cáo đã bị Ủy ban nhân dân thị trấn Ó, huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc. Lẽ ra sau khi bị xử phạt, bị cáo phải biết ăn năn, hối cải về hành vi của mình mà khắc phục, nhưng bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc vào ngày 06/01/2023, điều này thể hiện bị cáo xem thường pháp luật nên cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mà bị cáo gây ra.
[4] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ:
Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ sau: Bị cáo thuộc thành phần lao động, học vấn không biết chữ nên nhận thức pháp luật chế; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo. Hội đồng xét xử xét thấy do bị cáo Trịnh Tấn T có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong thời gian tại ngoại, luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật tại địa phương; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên xét thấy không cần thiết buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội; có thể áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa tội phạm.
[6] Về Hình phạt bổ sung: Do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, thu nhập không ổn định, tham gia đánh bạc với số tiền không lớn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; đồng thời không buộc bị cáo khấu trừ thu nhập theo quy định.
[7] Về xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã thu giữ các vật chứng sau:
- 01 cái dĩa sứ; 01 nắp nhựa; 03 hột xí ngầu;
- 01 xe mô tô biển số 67S1-5727, nhãn hiệu Yamaha, số loại TAURUS; số khung 009740, số máy 069744 (đã qua sử dụng)
- Tiền Việt Nam: 150.000 đồng.
Các vật chứng này phân hóa ra xử lý như sau:
- Đối với 01 cái dĩa sứ; 01 nắp nhựa; 03 hột xí ngầu là công cụ dùng để đánh bạc nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với chiếc xe mô tô biển số 67S1-5727, nhãn hiệu Yamaha, số loại TAURUS là xe của ông Trịnh Văn L đứng tên sở hữu, bị cáo sử dụng xe đi đánh bạc ông L không biết nên trả lại cho ông Trịnh Văn L.
- Đối với số tiền 150.000 đồng thu giữ liên quan trực tiếp đến vụ án nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
[8] Đối với Hồ Văn Vũ P1, Nguyễn Ngọc L1, Nguyễn Quốc T1 có hành vi tham gia đánh bạc là vi phạm pháp luật. Do những người này chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc hoặc đã bị kết án về tội đánh bạc hoặc tội tổ chức đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi đánh bạc, đồng thời chuyển hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính đối với những người trên là có căn cứ.
[9] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trịnh Tấn T phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo Trịnh Tấn T 01 (một) năm cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện T nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo T cho Ủy ban nhân dân thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo T có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân thị trấn Ó, huyện T, tỉnh An Giang trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:
Tịch thu tiêu hủy 01 cái dĩa sứ; 01 nắp nhựa; 03 hột xí ngầu (đã qua sử dụng).
Trả lại cho ông Trịnh Văn L 01 xe mô tô biển số 67S1-5727, nhãn hiệu Yamaha, số loại Taurus, số khung: 009740, số máy: 069744 (đã qua sử dụng).
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 150.000 đồng.
(Các vật chứng hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 63/QĐ-VKSTS ngày 06/11/2023).
Căn cứ Điều 23; Điều 26; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trịnh Tấn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; riêng đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại trụ sở UBND xã, phường, thị trấn nơi đương sự cư trú để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Triều |
Bản án số 76/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về hình sự (đánh bạc)
- Số bản án: 76/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trịnh Tấn T phạm tội đánh bạc
