|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 76/2024/HNGĐ-ST Ngày: 26/8/2024 V/v: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung" |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Trung.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Điệp và ông Hoài Đức Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Thanh Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hương Thủy – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 216/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1280/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1364/2024/QÐST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trương Thị Mỹ T, sinh năm 1999;
Địa chỉ: Tổ B, ấp K, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
Nơi ở hiện nay: Ấp E, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1988;
Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang.
Nơi ở hiện nay: Khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
(các đương sự vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 09 tháng 5 năm 2024, bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, chị Trương Thị Mỹ T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh D tự nguyện tìm hiểu và yêu thương nhau, chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 127, ngày 16 tháng 11 năm 2022
Chị T và anh D chung sống hạnh phúc được năm đầu. Sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng kéo dài. Nguyên nhân do anh D có lối sống không lành mạnh, gây ra nợ nần và đã nhiều lần lừa dối chị T về chuyện tiền bạc. Chị T đã khuyên anh D nhiều lần nhưng anh D vẫn không thay đổi nên vợ chồng không còn sự tin tưởng lẫn nhau, tình cảm vợ chồng không còn, chung sống không có hạnh phúc. Mâu thuẫn vợ chồng bản thân chị T và anh D đã tự hòa giải, được gia đình hai bên khuyên bảo để quay về chung sống với nhau nhưng không có kết quả. Chị T và anh D đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2023 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân chị T, anh D mỗi người có cuộc sống riêng, độc lập về kinh tế, không còn sự quan tâm chăm sóc cho nhau, không ai liên lạc và chủ động hòa giải. Chị T xác định giữa chị T và anh D không còn khả năng đoàn tụ. Vì vậy, chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị T được ly hôn với anh D.
Về con chung: Chị T và anh D chung sống có 01 con chung là Nguyễn Trương An T1, sinh ngày 30/9/2022. Ly hôn, chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và tạm thời không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Vì bận công việc làm ở xa nên chị T xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn anh Nguyễn Văn D đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thủ tục hòa giải, thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết định xét xử, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, cấp, tống đạt các văn bản tố tụng; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng được Tòa án thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đơn khởi kiện xin ly hôn của chị T là có cơ sở chấp nhận nên đề nghị cho chị T được ly hôn với anh D. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Trương An T1, sinh ngày 30/9/2022, chấp nhận giao cháu T1 cho chị T được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con là phù hợp do chị T có nguyện vọng nuôi con, thực tế chị T đang là người trực tiếp nuôi con và anh D không có ý kiến phản hồi. Về tài sản chung, nợ chung đương sự trình bày không có, nên đề nghị không đặt ra xem xét. Về án phí: Chị T phải nộp án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Chị Trương Thị Mỹ T nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1988 có hộ khẩu thường trú tại ấp V, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang và hiện sinh sống tại khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
- [2] Về yêu cầu khởi kiện:
2.1 Về quan hệ hôn nhân:
Chị T và anh D tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Xét trình bày của chị T nhận thấy: Chị T yêu cầu được ly hôn với anh D và thực tế chị T và anh D đã sống ly thân, mỗi người sống một nơi, đồng thời Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh D để làm việc, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh D vắng mặt thể hiện việc anh D không có thiện chí hòa giải, đoàn tụ. Từ những căn cứ trên, xét mâu thuẫn giữa chị T và anh D là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T yêu cầu ly hôn với anh D là có cơ sở, phù hợp quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
2.2 Về con chung: Chị T trình bày có 01 con là Nguyễn Trương An T1, sinh ngày 30/9/2022. Hiện nay do chị Trương Thị Mỹ T đang trực tiếp nuôi dưỡng, chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con. Vì anh D vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến phần hồi về con chung nên Hội đồng xét xử thấy nên giữ nguyên tình trạng ban đầu, giao con chung Nguyễn Trương An T1 cho cho chị Trương Thị Mỹ T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại các điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình.
Anh D được quyền đến thăm nom chăm sóc con chung, không ai được quyền cản trở. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các đương sự được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
2.3 Về tài sản chung và nợ chung: Chị T trình bày về tài sản chung và nợ chung không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- [3] Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
- [4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 266, Điều 267, Điều 271, Điều 273, Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Áp dụng Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Mỹ T về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” với anh Nguyễn Văn D.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị Mỹ T được ly hôn với anh Nguyễn Văn D.
- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Trương An T1, sinh ngày 30/9/2022 cho chị Trương Thị Mỹ T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tạm thời anh D không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh D được quyền đến thăm nom chăm sóc con chung, không ai được quyền cản trở. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các đương sự được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Trương Thị Mỹ T phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình, nhưng được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0017810 ngày 16 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch. Chị Trương Thị Mỹ T đã nộp đủ án phí.
- Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tiến Trung |
Bản án số 76/2024/HNGĐ-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn và nuôi con chung
- Số bản án: 76/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hon