Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN TÂN UYÊN

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2024/HS-ST

Ngày 26-7-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh.

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Nam Giang.

2. Ông Lê Sỹ Chiến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Nguyệt Ánh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Kiến Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 66/2024/TLST - HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2024/HSST-QĐ ngày 27/6/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn D, sinh năm 1995 tại huyện T, tỉnh Lai Châu. Nơi cư trú: Bản P, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Nhân viên giao hàng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lò Văn Đ (đã chết) và bà Lò Thị Ơ – sinh năm: 1964; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Ngày 06/02/2024, Lò Văn D bị khởi tố và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Công ty Cổ phần D1. Địa chỉ trụ sở: 405/15 X, phường B, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lương Duy H, chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lương Văn T, sinh năm 1990, địa chỉ: Tổ B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bưu cục 1143 đường L có địa chỉ tại tổ dân phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu (gọi tắt là Bưu cục) hoạt động theo ủy quyền của Công ty Cổ phần D1 có trụ sở tại 4 X, phường B, quận T, thành phố Hồ Chí Minh. Bưu cục 1143 do ông Lương Văn T quản lý.

Ngày 23/11/2023, Lò Văn D ký Hợp đồng dịch vụ với Công ty Cổ phần D1, hợp đồng số 3077843/HĐDV/EXP/2023. Theo hợp đồng, nhiệm vụ hàng ngày của Lò Văn D được công ty giao là nhận hàng tại Bưu cục rồi vận chuyển đi giao cho khách hàng và thu tiền cước vận chuyển, tiền thu hộ theo giá trị sản phẩm tại địa bàn các xã N, T, huyện T và tổ dân phố B, thị trấn T, huyện T.

Theo quy định kiểm tra và xác thực thông tin nộp tiền về công ty của Công ty Cổ phần D1 hàng nhanh quy định: Đối tượng áp dụng: Khối vận hành, ngày áp dụng 12/6/2018, quy định chung: Trước 12 giờ trưa hằng ngày (từ thứ 2 đến chủ nhật), tất cả các nhân viên xử lý, nhân viên thu ngân, nhân viên/cộng tác viên giao nhận chịu trách nhiệm nộp tiền về công ty sẽ tiến hành: Nộp toàn bộ số tiền thu được về công ty thông qua ngân hàng H1 (tại nơi không có ngân hàng làm việc vào thứ 7 và chủ nhật theo quy định); Quay phim lại màn hình thao tác chuyển tiền từ tài khoản cá nhân sang tài khoản công ty hoặc chụp hình giấy nộp tiền gửi cho giám sát vùng giao nhận đầu cuối. Phim hoặc hình chụp phải rõ nét, bao quát toàn bộ quá trình chuyển tiền hoặc giấy nộp tiền và không bị che khuất bất kỳ thông tin nào; 18 giờ hằng ngày, công ty sẽ xử lý nghiêm theo quy định đối với các trường hợp: Nhân viên không nộp tiền hoặc không gửi hình chụp giấy nộp tiền về cho quản lý vùng giao nhận đầu cuối theo đúng thời gian quy định...; Lò Văn D giao hàng cho khách phải vào áp để tích giao hàng thành công và thu số tiền theo đơn hàng, tiền thu được phải chuyển về tài khoản công ty trước 12 giờ ngày hôm sau, mỗi nhân viên đều có tài khoản riêng. Mức lương/01 tháng Dên được nhận được tính trên cơ sở 30% giá trị cước phí vận chuyển của tổng số đơn hàng phát thành công trong tháng. Thời hạn hợp đồng từ ngày 23/11/2023 đến ngày 31/12/2024.

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Lò Văn D sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, Y21S, màu đen, điện thoại màn hình cảm ứng, điện thoại lắp sim số 0335.597.xxx của nhà mạng Viettel, cài đặt ứng dụng GHN Driver với mã nhân viên của Lò Văn D là 3077843 mật khẩu đăng nhập là Tanuyenn123. D nhận tiền cước vận chuyển và tiền hàng hóa thu của khách bằng hình thức trả tiền mặt trực tiếp hoặc chuyển tiền đến số tài khoản 0335597956 của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 mang tên Lò Văn D mở tại chi nhánh tỉnh L.

Sáng ngày 23/12/2023, Lò Văn D đến Bưu cục nhận 60 đơn hàng để đi giao hàng tại các địa bàn các xã N, T, huyện T và tổ dân phố B, thị trấn T, huyện T. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, D đã giao thành công 31 đơn hàng với tổng số tiền cước, tiền thu hộ giá trị sản phẩm thành tiền là 7.242.000 đồng, trong đó có số tiền 4.740.000 là khách hàng đưa tiền mặt, còn 2.502.000 là khách hàng chuyển khoản vào số tài khoản 0335597956 của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 mang tên Lò Văn D mở tại chi nhánh tỉnh L; còn lại 29 đơn hàng chưa giao được thì D đã đưa lại cho ông T tại kho của Bưu cục. Cùng ngày hôm đó do không có tiền chi tiêu cá nhân nên D nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền 7.242.000 đồng của Công ty M chi tiêu cá nhân.

Đến sáng ngày 24/12/2023, D không đến Bưu cục làm việc mà đi ăn cỗ mừng nhà mới tại bản P, xã T, huyện T, tại đây D đã tiêu hết số tiền khoảng hơn 5.000.000 đồng. Cùng ngày, T có gọi điện thoại cho D nhiều lần yêu cầu D hoàn trả số tiền 7.242.000 đồng nhưng D không nghe điện thoại của anh T. Đến sáng ngày 25/12/2023 D sử dụng số tiền còn lại bắt xe ô tô khách xuống Hà Nội rồi đến xã V, huyện T, thành phố Hà Nội để làm thuê trong thời gian này anh T có gọi điện thoại cho D nhiều lần nhưng không được. Ngày 30/12/2023, ông Lương Văn T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tố giác về việc Lò Văn D đã chiếm đoạt tiền cước vận chuyển và tiền hàng hóa thu hộ của công ty để giải quyết theo quy định của pháp luật. Đến ngày 06/02/2024, Lò Văn D đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T để đầu thú về hành vi phạm tội của mình và giao nộp số tiền 7.242.000 đồng là tiền khắc phục hậu quả. Ngoài ra Lò Văn D còn giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, Y21S, màu đen, điện thoại màn hình cảm ứng, điện thoại lắp sim số 0335.597.xxx của nhà mạng Viettel là điện thoại di động D sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.

Bản Cáo trạng số 36/CT-VKS-TU, ngày 23/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên để xét xử Lò Văn D về tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 353 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Văn D phạm tội “Tham ô tài sản”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 353; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Lò Văn D từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền và buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Công ty Cổ phần D1 đã nhận lại số tiền bị cáo Lò Văn D chiếm đoạt và không đề nghị gì thêm nên không đề nghị xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, Y21S, màu đen, điện thoại màn hình cảm ứng, tịch thu tiêu hủy 01 thẻ sim số 0335597956 của nhà mạng Viettel trên thẻ sim có mã số 89840480000335702314.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị cáo đồng ý với bản Cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có tranh luận gì.

Đại diện theo ủy quyền của bị hại trình bày đã nhận lại được đủ số tiền do bị cáo chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T tỉnh Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:

Trong ngày 23/12/2023, tại địa bàn huyện T, tỉnh Lai Châu, Lò Văn D lợi dụng quyền hạn khi thực hiện nhiệm vụ thu thu tiền cước vận chuyển, tiền thu hộ theo giá trị sản phẩm của khách hàng và D cũng có trách nhiệm quản lý số tiền thu được để chiếm đoạt tổng số tiền 7.242.000 đồng của Công ty cổ phần D1 hàng nhanh rồi mang đi tiêu xài cá nhân hết.

Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản và hoạt động đúng đắn bình thường của tổ chức kinh tế, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, tuy nhiên vì lười lao động muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo Lò Văn D đã phạm vào tội “Tham ô tài sản”theo quy định tại khoản 1 Điều 353 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Vụ án có tính chất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo không những làm mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn mà còn xâm phạm quyền sở hữu tài sản và hoạt động đúng đắn bình thường của tổ chức kinh tế nên cần được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lò Văn D không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi phạm tội một thời gian thì bị cáo đã ra đầu thú khai nhận về hành vi phạm tội của mình và tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại, khắc phục hậu quả. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Trên cơ sở tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đảm bảo tính răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo hiện không có việc làm và thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

- Đối với vật chứng do bị cáo Lò Văn D giao nộp: Số tiền 7.242.000 đồng để bồi thường thiệt hại cho Công ty Cổ phần D1. Ngày 15/3/2024, Cơ quan Cảnh điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả số tiền 7.242.000 đồng cho Công ty Cổ phần D1 hàng nhanh là đúng quy định. Bị hại Công ty Cổ phần D1 hàng nhanh đã nhận lại số tiền 7.242.000 đồng và không đề nghị bị cáo Lò Văn D phải bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, Y21S, màu đen, điện thoại màn hình cảm ứng là công cụ bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- Đối với 01 thẻ sim số 0335597956 của nhà mạng Viettel trên thẻ sim có mã số 89840480000335702314 bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu, tiêu hủy.

[6] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ khoản 1 Điều 353; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Lò Văn D phạm tội “Tham ô tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lò Văn D 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, Y21S, màu đen, điện thoại màn hình cảm ứng, IMEL1: 861128059309200, IMEL2: 861128059309218, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) thẻ sim số 0335597956 của nhà mạng Viettel, trên thẻ sim có mã số 89840480000335702314.

(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng hồi 16 giờ 15 phút, ngày 26/6/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lò Văn D phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND huyện Tân Uyên;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Uyên;
  • - Công an huyện Tân Uyên;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/HS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về tham ô tài sản (embezzlement of assets)

  • Số bản án: 76/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản (Embezzlement of assets)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội Tham ô tài sản theo khoản 1 Điều 353 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger