Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN B

TỈNH LONG AN

Bản án số: 76/2024/HS-ST

Ngày: 26-7-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Thảnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hoàng Nam

Ông Nguyễn Thanh An

- Thư ký phiên tòa: Bà Lại Thị Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 82/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Ngọc S, tên gọi khác: Không, sinh ngày 15/9/1988, tại Long An; Nơi cư trú: ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Ngọc C và bà Hà Thị Đ, bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị khởi tố tại ngoại điều tra. Có mặt;

- Bị hại: Trần Trí T (đã chết).

Người đại diện hợp pháp theo pháp luật của bị hại:

  1. Ông Trần Đặng L, sinh năm 1978 (vắng mặt);
  2. Bà Trần Thị Thanh P, sinh năm 1982 (có mặt);

Cùng địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện B, tỉnh Long An.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Ngọc C, sinh năm 1953 (có mặt);

Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 50 phút ngày 05/7/2022, Phạm Ngọc S có giấy phép lái xe hạng A1, điều khiển xe mô tô biển số 59C1-236.04 một mình lưu thông trên đường T (ĐT 816) hướng Quốc lộ A (QL1) đi Quốc lộ N (QLN2) trong tình trạng đã say rượu, bia (nồng độ cồn trong máu 224mg/dL). Khi đến Km 02+, thuộc Ấp F, xã T, huyện B, lúc này đêm tối có đèn chiếu sáng công cộng đang bật sáng bên trái hướng QL1 đi QLN2, mặt đường trải nhựa, khô ráo, bằng phẳng, giữa trung tim đường có một vạch sơn màu vàng liền nét phân chia hai thành chiều đường xe chạy, mỗi chiều đường rộng 4m00. Sinh điều khiển xe trong tình trạng say rượu, bia không làm chủ tay lái đã điều khiển xe lấn sang phần đường bên trái, khi xe mô tô biển số 59C1-236.04 lấn qua khỏi trung tim đường khoảng 0,9m thì cùng lúc này hướng QLN2 đi QL1 có xe mô tô biển số 62K4-0521 do Trần Trí T điều khiển đang đến. T thấy S điều khiển xe lấn sang phần đường QLN2 đi QL1 bất ngờ nên T liền thắng xe trượt một đoạn 9m10, do khoảng cách quá gần dẫn đến phần bên phải xe 62K4-0521 va chạm vào phần bên phải xe 59C1-236.04 làm T và S cùng 2 xe té ngã trên đường, hậu quả Trần Trí T bị thương đưa đi cấp cứu Bệnh viện C1, Tp., đến ngày 06/7/2022 xin về và tử vong tại nhà, gia đình T từ chối khám nghiệm tử thi; Phạm Ngọc S bị thương được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện C1, Tp . sau đó chuyển Bệnh viện Đ1, đến ngày 25/7/2022 thì xuất viện.

Tại Bản kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số 204/GĐHS ngày 17/11/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh L, giám định và kết luận: Nguyên nhân tử vong của Trần Trí T do chấn thương sọ não nặng.

Quá trình điều tra, xác định được trong thời gian ngày 12/12/2023 đến ngày 21/02/2024 Phạm Ngọc S đi khám, điều trị tại Viện Pháp y tâm thần trung ương B. Căn cứ hồ sơ bệnh án của Viện Pháp y tâm thần trung ương B, Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định tâm thần đối với Phạm Ngọc S. Bản Kết luận giám định pháp y tâm thần sau thời gian điều trị bắt buộc số 179/KLBB-VPYTW ngày 18/3/2024 của Viện Pháp y tâm thần trung ương B kết luận: hiện tại bệnh đã ổn định, không cần thiết điều trị bắt buộc nữa. Đương sự có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi để làm việc với cơ quan pháp luật.

Tại Phiếu kết quả xét nghiệm ngày 05/7/2022 của Bệnh viện C1, xét nghiệm Rượu (Ethanol) của Phạm Ngọc S là 224 mg/dL.

Tại sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường lập hồi 19 giờ 15 phút ngày 05/7/2022 do Cơ quan CSĐT Công an huyện B lập thể hiện:

Tai nạn giao thông xảy ra tại Km 02⁺, đường Đ, Ấp F, xã T, huyện B, tỉnh Long An là đoạn đường thẳng được trải nhựa bằng phẳng chia làm 02 chiều đường xe chạy bởi vạch sơn màu vàng liên tục, mỗi bên rộng 4m. Chọn trụ điện số 28 làm điểm mốc, chọn mép đường bên phải của đường T hướng từ QLN2 đi QL1 làm mép đường chuẩn để đo vẽ các dấu vết như sau:

Vết ma sát kí hiệu (1) nằm ở chiều đường hướng QLN2 đi QL1, có màu đen dài 9m10, đầu vết cách mép đường chuẩn là 2m90, cuối dấu vết cách mép đường chuẩn là 3m10.

Vết cày kí hiệu (2) nằm ở chiều đường hướng QLN2 đi QL1 dài 3m20, đầu vết cày cách mép đường chuẩn 2m40 và cách vết ma sát (1) là 2m20. Cuối vết cày ngay vị trí gát chân trước bên trái của xe mô tô 59C1-236.04.

Xe mô tô 59C1-236.04 kí hiệu (3) ngã sang trái, nằm ở chiều đường hướng QLN2 đi QL1, đầu xe hướng QLN2, đuôi xe hướng QL1, tâm trục bánh trước cách mép đường chuẩn 1m10, tâm trục bánh sau cách mép đường chuẩn 1m20.

Vết cày kí hiệu (4) dài 1m50, đầu vết cày cách mép đường chuẩn là 2m20 cách cuối dấu vết ma sát (1) là 5m40, cuối vết cày ngay vị trí gát chân trước bên trái.

Tại Biên bản khám xe mô tô biển số 62K5-0421: cụm đèn chiếu sáng phía trước bể hoàn toàn, đầu chắn bùn bánh xe trước bể hoàn toàn, hai phuột trước cong thụng từ trước ra sau, đầu tay cầm lái bên trái bị mài mòn, gát chân trước bên trái bị mài mòn.

Tại Biên bản khám xe mô tô biển số 59C1-236.04: có gương chiếu hậu bên trái bể, vành bánh xe phía trước cong thụng, mặt ngoài ốp nhựa phuột trước bên phải có dấu vết ma sát màu đen (kích thước 8x5cm), đầu cổ bộ phận giảm thanh bị gãy, cánh bửng bên phải có dấu vết lõm vào trong.

Tại Bản Cáo trạng số 82/CT-VKSBL ngày 10 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An truy tố bị cáo Phạm Ngọc S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Ngọc S hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan, không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại về kết luận giám định,

đồng thời không khiếu nại đối với Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An tham gia phiên tòa vẫn giữ y quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo Phạm Ngọc S về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 2, Điều 4, Điều 6 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc S 03 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm, thời hạn tính từ ngày tuyên án. Ngoài ra không đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phạm Ngọc S.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Trả lại cho bị cáo Phạm Ngọc S 01 giấy phép lái xe hạng A1 số [...] (Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện B đang tạm giữ).
  • - 01 xe mô tô biển số 62K5-0421 thuộc sở hữu của Trần Thị Thanh P, hiện Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã trả xe cho chủ sở hữu xong nên không đề nghị xem xét.
  • - 01 xe mô tô biển số 59C1-236.04 do Trần Thanh H đứng tên trên giấy chứng nhận đăng kí xe. Bị cáo S mua lại xe trên nhưng chưa đăng kí thủ tục sang tên. Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã trả xe cho ông Phạm Ngọc C là ba ruột của bị cáo S nên không đề nghị xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo và đại diện bị hại thoả thuận bồi thường thêm số tiền 10.000.000 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

Lời nói cuối cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong

quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2]. Về nội dung:

Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Ngọc S tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại trong quá trình điều tra, phù hợp với sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông, Bản ảnh hiện trường, Bản ảnh phương tiện, Bản kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số 204/GĐHS ngày 17/11/2022 của Trung tâm pháp y - Sở Y và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định:

Khoảng 18 giờ 50 phút ngày 05/7/2022, bị cáo Phạm Ngọc S có giấy phép lái xe hạng A1, điều khiển xe mô tô biển số 59C1-236.04 một mình lưu thông trên ĐT 816 hướng QL1 đi QLN2 trong tình trạng đã say rượu, bia (nồng độ cồn trong máu 224mg/dL). Khi đến Km 02+, thuộc ấp F, xã T, huyện B, bị cáo S điều khiển xe không làm chủ tay lái lấn sang phần đường bên trái qua khỏi trung tim đường, cùng lúc đó hướng ngược lại có xe mô tô biển số 62K4-0521 do anh Trần Trí T điều khiển đang đến, do bị cáo S lấn đường bất ngờ anh T không tránh kịp dẫn đến phần bên phải xe 62K4-0521 của anh T va chạm vào phần bên phải xe 59C1-236.04 của bị cáo S làm anh T và bị cáo S cùng 2 xe té ngã trên đường, hậu quả anh T bị chấn thương đưa đi cấp cứu Bệnh viện C1, Thành phố Hồ Chí Minh đến ngày 06/7/2022 thì tử vong, còn bị cáo S bị chấn thương đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện C1 - Thành phố Hồ Chí Minh và Bệnh viện Đ1 đến ngày 25/7/2022 thì xuất viện.

Hành vi của bị cáo Phạm Ngọc S đã vi phạm vào khoản 23 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ và khoản 1 Điều 35 Luật phòng chống, chống tác hại của rượu, bia. Bị cáo biết và pháp luật buộc bị cáo phải biết khi tham gia giao thông phải tuyệt đối tuân theo các quy định về luật giao thông đường bộ. Thế nhưng trong lúc điều khiển xe mô tô biển số 59C1-236.04 trong tình trạng đã say rượu, bia (nồng độ cồn trong máu 224mg/dL) không làm chủ tay lái lấn sang phần đường bên trái dẫn đến va chạm vào phần bên phải xe 62K4-0521 do anh Trần Trí T điều khiển hậu quả làm cho anh T tử vong.

Từ những phân tích trên có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Phạm Ngọc S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An truy tố bị cáo theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo Phạm Ngọc S cần được xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự, có mức án phù hợp tương xứng mức độ hành vi mà bị cáo gây ra mới có tác dụng trừng phạt, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[3]. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[3.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Phạm Ngọc S phạm tội không có tình tiết tăng nặng.

[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Phạm Ngọc S có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại cho đại diện bị hại, đại diện bị hại có đơn xin bãi nại đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, hoàn cảnh gia đình khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4]. Xét thấy, sau khi tai nạn xảy ra bị cáo Phạm Ngọc S cũng bị chấn thương điều trị tại bệnh việc Chợ R-Thành phố Hồ Chí Minh và Bệnh viện Đ1 từ ngày 5/7/2022 đến ngày 25/7/2022 với chuẩn đoán tổn thương ổ của não và qua kết luận giám định thương tích với tỷ lệ 66%. Ngoài ra trong quá trình điều tra từ ngày 12/12/2023 đến ngày 21/02/2024 bị cáo Phạm Ngọc S còn phải đi khám, điều trị tại Viện Pháp y tâm thần trung ương B theo Quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện B, sau khi hết thời gian điều trị bắt buộc bị cáo vẫn còn điều trị do di chứng của não. Mặt khác, bị cáo Phạm Ngọc S có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó cần có chính sách khoan hồng và tạo điều kiện cho bị cáo được tiếp tục điều trị di chứng để lại sau khi gây tai nạn giao thông để lại, cần áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương đối với bị cáo cũng có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

[5]. Xét đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo Phạm Ngọc S là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự thì hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Ngọc S còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Tuy nhiên, xét

thấy hành vi phạm tội của bị cáo không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7]. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

  • - Trả lại cho bị cáo Phạm Ngọc S 01 giấy phép lái xe hạng A1 số [...].
  • - 01 xe mô tô biển số 62K5-0421 thuộc sở hữu của bà Trần Thị Thanh P, Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã trả xe cho chủ sở hữu xong nên không xem xét.
  • - 01 xe mô tô biển số 59C1-236.04 do Trần Thanh H đứng tên trên giấy chứng nhận đăng kí xe. Bị cáo Phạm Ngọc S mua lại xe trên nhưng chưa đăng kí thủ tục sang tên. Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã trả xe cho ông Phạm Ngọc C là ba ruột của bị cáo S nên không xem xét.

[8]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Phạm Ngọc S và đại diện gia đình thỏa thuận bồi thường tiền chi phí mai táng và tổn thất tinh thần cho đại diện bị hại số tiền 70.000.000đ. Đại diện bị hại đã nhận đủ tiền. Trước phiên tòa, đại diện bị hại yêu cầu bị cáo S bồi thường thêm số tiền 10.000.000đồng, bị cáo đồng ý nên Hội đồng xét xử ghi nhận buộc bị cáo Phạm Ngọc S bồi thường cho đại diện bị hại ông L, bà P số tiền 10.000.000đồng.

[9]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Phạm Ngọc S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 2, Điều 4, Điều 6 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;

    Xử phạt: Bị cáo Phạm Ngọc S 03 (ba) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo Phạm Ngọc S về Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Long An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Phạm Ngọc S có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Trường hợp bị cáo Phạm Ngọc S thay đổi nơi cư trú thì áp dụng Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
  4. Trả lại cho bị cáo Phạm Ngọc S 01 giấy phép lái xe hạng A1 số [...]

    (Vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện B đang tạm giữ theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/7/2024).

  5. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, 591 Bộ luật dân sự buộc bị cáo Phạm Ngọc S bồi thường cho đại diện bị hại ông Trần Đặng L và bà Trần Thị Thanh P số tiền 10.000.000đồng.
  6. Khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

  7. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Phạm Ngọc S nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.
  8. Án xử sơ thẩm công khai. Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
  9. “Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án là 05 năm theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án."

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện B;
  • - Sở Tư pháp Long An;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Bến Lức; B
  • - Chi cục Thi hánh án dân sự huyện B;
  • - Bị cáo; đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Kim Thảnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/HS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 76/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Ngọc S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger