|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 76/2024/HS-ST Ngày: 24 – 8 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Học
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Thanh Hương
2. Bà Đặng Thị Kim Tuyến
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Long – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Sáu - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 61/2024/TLST-HS ngày 18/7/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2024/QĐXXST-HS ngày 02/8/2024 đối với các bị cáo:
- Điểu Mơi, sinh năm 1998 tại: tỉnh Bình Phước.
- Điểu Hoàng L, sinh năm 2001 tại: tỉnh Bình Phước.
- - Ngày 03/02/2021, bị Công An xã A xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc với số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng). Đã chấp hành xong quyết định xử phạt ngày 13/4/2022.
- - Ngày 19/02/2021, bị Công An xã A xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản với số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng). Đã chấp hành xong quyết định xử phạt ngày 01/4/2022.
- Ngày 26/02/2024 bị cáo có hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, bị bắt quả tang, tạm giữ hình sự từ ngày 27/02/2024, đến ngày 06/3/2024 bị khởi tố và tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện H.
Tên gọi khác: D; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: X'tiêng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 4/12.
Nơi thường trú: Tổ A, ấp T, xã A, huyện H, tỉnh Bình Phước.
Nơi ở hiện tại: Tổ G, ấp T, xã A, huyện H, tỉnh Bình Phước.
Cha: Điểu V, sinh năm 1971, Mẹ: Thị Ch H, sinh năm: 1970; Bị cáo có 03 anh em, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2012; Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không
Ngày 26/02/2024 bị cáo có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, bị bắt quả tang, tạm giữ hình sự từ ngày 27/02/2024, đến ngày 06/3/2024 bị khởi tố và tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện H.
Tên gọi khác: T; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: X'tiêng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 06/12.
Nơi cư trú: Tổ 4, ấp An Tân, xã An Phú, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước
Cha: Điểu Hớp, sinh năm 1962, Mẹ: T, sinh năm 1966; Bị cáo có 05 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất là bị cáo; Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không
Về nhân thân:
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào chiều ngày 25/02/2024, Điểu M có nhu cầu sử dụng ma tuý nên một mình đi đến khu vực lô cao su gần ngã ba Phố L thuộc ấp P, xã A, huyện H, tỉnh Bình Phước gặp một nam thanh niên (không rõ lai lịch) mua một gói ma tuý đá với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, M mang về nhà cất giấu gói ma túy trên vào trong hộp kim loại (màu đỏ) để ở trong chòi trước hiên nhà M với mục đích là để sử dụng một mình.
Khoảng 21 giờ 00 ngày 26/02/2024, Điểu Hoàng L mang theo một gói ma túy đi đến nhà Điểu M chơi. Tại đây, L hỏi mượn bộ dụng cụ sử dụng ma tuý tự chế của M để dùng làm dụng cụ sử dụng ma tuý thì M đồng ý. Sau đó, L lấy gói ma tuý mang theo ra đổ hết vào nỏ thuỷ tinh để sử dụng tại nhà của M. Thấy L sử dụng ma túy nên M xin tham gia sử dụng cùng và được L đồng ý. M và L đang cùng sử dụng ma túy thì có Điểu Nguyền đến nhà M chơi; thấy M và L đang cùng sử dụng ma túy nên N xin tham gia cùng sử dụng ma túy thì được L và M đồng ý. Khi 03 đối tượng gồm: Điểu Mơi, Điểu H và Điểu N1 đang sử dụng ma túy thì lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Thu giữ một bộ dụng cụ các đối tượng đang dùng để sử dụng ma túy; một gói ma túy bên trong hộp kim loại màu đỏ để ngay chỗ Điểu Mơi ngồi cùng một số tang vật liên quan. Điểu M khai nhận gói ma túy bị thu giữ là do M mua của một thanh niên (không rõ lai lịch) vào chiều ngày 25/02/2024 mang về cất giấu nhằm mục đích để sử dụng một mình mình.
Tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với M, L và N1 cho kết quả dương tính -có sử dụng ma túy.
Tại cơ quan điều tra Điểu M, Điểu H và Điểu N1 đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.
Căn cứ Kết luận giám định số: 262/KL-KTHS ngày 05/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- - Chất màu nâu xám (ký hiệu M1) bám dính trong một nỏ thủy tinh được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng do mẫu tồn tại ở dạng vết.
- - Tinh thể màu trắng (ký hiệu M2, gói ma túy thu giữ của Điểu M) có trong 01 gói nylon hàn kín, được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là M: 0,1371 gam.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
- - Đối với ống thuỷ tinh trong suốt một đầu được uốn cong và có hình bầu tròn được niêm phong trong một bì thư ghi mẫu hoàn lại sau giám định vụ số: 262M1/KL ngày 05/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh B; đây là vật chứng vụ án, hiện không còn giá trị sử dụng. Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Tòa án tuyên tịch thu, tiêu hủy.
- - Đối với 0,1371 gam chất ma túy loại Methamphetamine, sau giám định còn lại 0,0754 gam được niêm phong trong một bì thư ghi mẫu vật hoàn lại sau giám định vụ số: 262M2/KL ngày 05/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh B; đây là đồ vật cấm tàng trữ, lưu hành. Căn cứ điểm a, khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Tòa án tuyên tịch thu, tiêu hủy.
- - Đối với điện thoại di động hiệu S1 Galaxy A31 màu trắng, số kiểu máy: SM-A315G/DS thu giữ của Điểu M. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản cá nhân của M. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Tòa án tuyên trả lại cho Điểu M.
- - Đối với các đồ vật gồm: 01 quẹt gas màu xanh trắng hiệu HOA VIỆT; 01 vỏ chai nhựa không nhãn mác, trên nắp nhựa màu trắng có đục 02 lỗ tròn; 01 đoạn ống hút nhựa màu vàng dài 18cm; 01 ống nỏ thủy tinh dài 7,8cm. Đây là những đồ vật không có giá trị sử dụng. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Tòa án Tòa án tuyên tịch thu, tiêu hủy.
Về vấn đề dân sự: Vụ án không phát sinh vấn đề dân sự.
Cáo trạng số 65/CT-VKS ngày 18/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản truy tố các bị cáo Điểu M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 và Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điểu Hoàng L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 255 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Cáo trạng số 65/CT-VKS ngày 18/7/2024 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Điểu M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; tuyên bố bị cáo Điểu Hoàng L1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đề nghị Hội đồng xét xử.
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Điểu M mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Điểu M mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- - Áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Buộc Bị cáo Điểu M phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội với hình phạt chung là từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm 03 tháng tù.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Điểu Hoàng L1 mức án từ 07 năm 03 tháng đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Các bị cáo tranh luận: Bị cáo không tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Đề nghị Xử lý vật chứng vụ án: Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa vẫn giữ nguyên đề nghị xử lý vật chứng vụ án như nội dung trong bản cáo trạng.
Đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bị cáo và những người tham gia tố tụng. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai kiến, khiếu nại hành vi, quyết định của người và cơ quan tiến hành tố tụng nên hợp pháp.
[2] Tại phiên toà, bị cáo Điểu M, Điểu Hoàng L1 khai nhận toàn bộ hành vi của mình như Cáo trạng số 65/CT-VKS ngày 18/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản truy tố, phù hợp với lời khai của người làm chứng, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản quả tang, Kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được kiểm tra, đánh giá tại phiên tòa. Kết luận như sau:
Đối với Điểu M: Vào tối 26/02/2024, Điểu M đã có hành vi cung cấp dụng cụ sử dụng ma túy và địa điểm cho Điểu Hoàng L1 và Điểu N1 sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của Điểu M. Ngoài ra, Điểu M còn có hành vi cất giấu trái phép 01 gói ma túy, loại Methamphetamine có trọng lượng là 0,1371g nhằm mục đích để sử dụng. Bản thân Điểu M là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi với lỗi cố ý, xâm phạm đến chế độ quản lý chất ma túy được quy định trong Bộ luật Hình sự. Hành vi trên của Điểu M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015.
Đối với Điểu Hoàng L1: Vào tối ngày 26/02/2024, Điểu Hoàng L1 đã có hành vi cung cấp chất ma túy cho Điểu M và Điểu N1 cùng sử dụng với L1 tại nhà của Điểu M. Bản thân Điểu Hoàng L1 là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi với lỗi cố ý, xâm phạm đến chế độ quản lý chất ma túy được quy định trong Bộ luật Hình sự. Hành vi trên của Điểu Hoàng L1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015.
[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các loại chất gây nghiện, đi ngược lại đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong việc đấu tranh phòng ngừa các tội phạm về ma túy, tạo điều kiện thuận lợi cho những đối tượng khác sử dụng trái phép chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương, đồng thời là mầm mống của các tệ nạn xã hội khác nên phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi phạm tội của mình gây ra.
Bị cáo Điểu M là người đã thành niên và hoàn toàn nhận thức được hành vi tàng trữ và tổ chức sử dụng trái phép ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện để thỏa mãn nhu cầu của bản thân và bạn bè, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo có nhân thân rất xấu: Ngày 03/02/2021, bị Công An xã A xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc với số tiền 1.500.000đ. Đã chấp hành xong quyết định xử phạt ngày 13/4/2022; Ngày 19/02/2021, bị Công an xã A xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản với số tiền 1.500.000đ. Đã chấp hành xong quyết định xử phạt ngày 01/4/2022 nhưng bị cáo không lấy đó rút kinh nghiệm cho bản thân mà tiếp tục phạm tội nên cần xử lý nghiêm đối với bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung; bị cáo có tình tiết định khung tăng nặng là đối với 02 người trở lên theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tuy nhiên, bị cáo thành khẩn khai báo trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, là người dân tộc thiểu số, ít am hiểu pháp luật nên cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự cho bị cáo khi lượng hình.
Bị cáo Điểu Hoàng L1 là người đã thành niên và hoàn toàn nhận thức được hành vi tổ chức sử dụng trái phép ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện để thỏa mãn nhu cầu của bản thân và bạn bè, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo có nhân thân rất xấu: Ngày 03/02/2021, bị Công An xã A xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc với số tiền 1.500.000đ. Đã chấp hành xong quyết định xử phạt ngày 13/4/2022; Ngày 19/02/2021, bị Công an xã A xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản với số tiền 1.500.000đ. Đã chấp hành xong quyết định xử phạt ngày 01/4/2022 nhưng bị cáo không lấy đó rút kinh nghiệm cho bản thân mà tiếp tục phạm tội nên cần xử lý nghiêm đối với bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung; bị cáo có tình tiết định khung tăng nặng là đối với 02 người trở lên theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tuy nhiên, bị cáo thành khẩn khai báo trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử; là người dân tộc thiểu số, ít am hiểu pháp luật nên cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự cho bị cáo khi lượng hình.
Đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” thì đây là vụ án đồng phạm mang tính chất gian đơn, các bị cáo không bàn bạc, không lên kế hoạch và cấu kết chặt chẽ mà gặp nhau cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, vị trí tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là nhà chòi của bị cáo M và M là người cung cấp công cụ để các bị cáo tổ chức sử dụng ma túy nên bị cáo M phải chịu trách nhiệm hình sự nghiên khắc hơn bị cáo L1.
Trên cơ sở đó, Cáo trạng số 65/CT-VKS ngày 18/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản truy tố bị cáo Điểu M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và bị cáo Điểu Hoàng L1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và đề xuất mức hình phạt đối với các bị cáo như trên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Đối với Điểu N1: Căn cứ tài liệu thu thập được xác định ngày 26/2/2024, Điểu N1 chỉ tham gia sử dụng trái phép chất ma túy cùng với Điểu M và Đ nên không phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng phải bị xử phạt hành chính. Ngày 24/6/2024, Công an huyện H đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Điểu N1 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định.
Đối với người thanh niên đã bán ma túy cho Điểu Hoàng L1 và người thanh niên không rõ lai lịch bán ma túy cho Điểu M: Quá trình xác minh thu thập tài liệu không xác định được lai lịch của những người này nên không có cơ sở đề nghị xử lý.
[4] Xử lý vật chứng vụ án:
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử lý vật chứng là phù hợp với quy định pháp luật và tình tiết của vụ án nên chấp nhận.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Vụ án không phát sinh vấn đề dân sự.
[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo: Điểu Mơi (Dê) phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Tuyên bố bị cáo: Điểu H (T) phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
2. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Điểu M mức án 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Điểu M mức án 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, buộc bị cáo Điểu M phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 08 (Tám) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tính tù từ ngày 27/02/2024.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017) Xử phạt bị cáo Điểu Hoàng L1 mức án 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tính tù từ ngày 27/02/2024.
Tiếp tục tạm giam các bị cáo trong hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
3. Về vật chứng vụ án:
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- - Tịch thu, tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định là 0,0754 gam loại Methamphetamine; ống thuỷ tinh trong suốt một đầu được uốn cong và có hình bầu tròn được niêm phong trong một bì thư ghi mẫu hoàn lại sau giám định vụ số: 262M1/KL ngày 05/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh B; đây là vật chứng vụ án, hiện không còn giá trị sử dụng; 01 quẹt gas màu xanh trắng hiệu HOA VIỆT; 01 vỏ chai nhựa không nhãn mác, trên nắp nhựa màu trắng có đục 02 lỗ tròn; 01 đoạn ống hút nhựa màu vàng dài 18cm; 01 ống nỏ thủy tinh dài 7,8cm. Đây là những đồ vật không có giá trị sử dụng.
- - Trả lại cho Điểu M: điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A31 màu trắng, số kiểu máy: SM-A315G/DS thu giữ của Điểu M. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản cá nhân của M.
(Vật chứng được miêu tả theo Quyết định chuyển vật chứng số 57/QĐ-VKS ngày 18/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước và biên bản giao nhận vật chứng số 0006012 ngày 18/7/2024 giữa cơ quan Hỗ trợ tư pháp và Thi hành án hình sự và chi Chi cục thi hành án dân sự huyện Hớn Quản).
4. Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
Các bị cáo Điểu M, Điểu H mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đình Học |
Bản án số 76/2024/HS-ST ngày 24/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 76/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ok
