| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 76/2024/HS-ST
Ngày: 24/6/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Quang Dũng
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Đoàn Hồng Hải
Bà Trần Thị Tuyết
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Phan Văn Dần – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phạm Tuân - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 69/2024/HSST ngày 27/5/2024, quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Ngọc M, sinh ngày 08 tháng 9 năm 1989 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nữ; Thường trú: Không nơi đăng ký thường trú; Chỗ ở: Tầng lửng nhà số H N, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Học vấn: 0/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Hoàng O và bà: Nguyễn Thị H (đã chết); Chưa có chồng con; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 28/8/2007 bị Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 11/11/2007, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù. Tháng 07 năm 2008, bị cáo đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp án phí Hình sự sơ thẩm; Ngày 16 tháng 11 năm 2016 bị Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng. Bị cáo chấp hành xong hình phạt vào ngày 15/12/2017.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/11/2023 (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 30/11/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Trật tự xã hội Công an Q kết hợp Công an P, Quận E kiểm tra hành chính nhà số H N, Phường A, Quận E phát hiện tại tầng trệt có Phạm Thị Ngọc T có hành vi đánh bạc dưới hình thức “ghi số đề ăn thua bằng tiền”. Tiếp tục kiểm tra tầng lửng có Nguyễn Ngọc M đang ở. Tổ công tác phát hiện trên bàn gỗ trong phòng M có 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu, M khai là ma túy. Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội bàn giao Nguyễn Ngọc M cùng vật chứng thu giữ cho Công an P, Quận E lập biên bản bắt người phạm tội quả tang sau đó chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Quận E để điều tra theo thẩm quyền.
Vật chứng: 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu; 02 bình nhựa có nắp đậy màu đen được khoét 02 lỗ tròn; 03 điện thoại di động gồm: 01 điện thoại di động hiệu N, số IMEI: 353147112991767; 02 điện thoại iPhone, số IMEI: 353316078284109 và 356766082184413.
Tại bản Kết luận giám định số 13503/KL-KTHS ngày 08/12/2023 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon (ký hiệu m) cần giám định, bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Ngọc M và hình dấu Công an P, Quận E là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5756g (không phẩy năm bảy năm sáu gam), loại Methamphetamine.
Bản cáo trạng số: 74/CT-VKS-Q5 ngày 27/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc M về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Nguyễn Ngọc M đã có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy với khối lượng là 0,5756g (không phẩy năm bảy năm sáu gam), loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng và bị bắt quả tang. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Ngọc M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc M với mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù; Về vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Ngọc M không có ý kiến tự bào chữa, tranh luận và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa công khai, bị cáo Nguyễn Ngọc M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận, bị cáo Nguyễn Ngọc M đã có hành vi cất giữ trái phép 0,5756g (không phẩy năm bảy năm sáu gam), loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng. Do đó, hành vi của bị cáo là đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét bị cáo là người có năng lực hành vi, đủ khả năng nhận thức được việc làm của mình, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật mà Nhà nước nghiêm cấm, nhưng bị cáo bất chấp pháp luật tàng trữ chất ma túy nhằm mục đích sử dụng để thỏa mãn cơn nghiện.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây nghiện và độc hại, gây mất trật tự xã hội ở địa phương, còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Do đó, cần phải có một mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo nhằm mục đích giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định, để bị cáo có thể cải tạo thành người có ích cho xã hội, đồng thời đủ sức răn đe đối với những người khác có hành vi tương tự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” không hưởng lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Đối với người thanh niên đã bán ma túy cho bị cáo M, hiện chưa rõ lai lịch, khi nào bắt được xử lý sau.
[8] Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Ngọc M là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.
[9] Về xử lý vật chứng:
Tinh thể không màu trong 01 gói nylon, bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Ngọc M và hình dấu Công an P, Quận E là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5756g (không phẩy năm bảy năm sáu gam), loại Methamphetamine). Sau giám định còn lại được gói trong 01 gói niêm phong số 13505/23 (2617/23) bên ngoài có chữ ký của giám định viên Trần Đình H1 và cán bộ điều tra Trương Tấn L. Xét đây là vật phạm pháp, Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
02 bình nhựa có nắp đậy màu đen được khoét 02 lỗ tròn là dụng cụ sử dụng ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy
01 điện thoại di động hiệu Nokia, số IMEI: 353147112991767 là tài sản cá nhân của bị cáo, dùng vào việc liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
02 điện thoại iPhone, số IMEI: 353316078284109 và 356766082184413 là tài sản cá nhân của bị cáo không dùng vào việc liên lạc mua bán ma túy nên cần trả lại cho bị cáo.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc M 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 30/11/2023.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong số 13505/23 (2617/23) bên ngoài có chữ ký của giám định viên Trần Đình H1 và cán bộ điều tra Trương Tấn L là số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định.
Tịch thu tiêu hủy: 02 bình nhựa có nắp đậy màu đen được khoét 02 lỗ tròn.
Trả lại cho bị cáo 02 điện thoại iPhone, số IMEI: 353316078284109 và 356766082184413.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số IMEI: 353147112991767.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).
Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 (được sửa, đổi bổ sung năm 2017) và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.
Bị cáo chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Quang Dũng |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bản án số 76/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 76/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Ngọc Mai phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
