|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẺ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 76/2024/HNGĐ-ST
Ngày 24 - 6 - 2024
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhẫn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sơn
Bà Tăng Thị Bạch Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Hồng Trang, cán bộ Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách tham gia phiên tòa: bà Lâm Bích Ngọc, Kiểm sát viên
Ngày 24/6/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 118/2024/TLST-HNGĐ, ngày 08 tháng 5 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 184/2024/QĐXX-ST, ngày 31/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 152/2024/QÐST-HN ngày 17/6/2024, giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Bà Cao Thị Minh T, sinh ngày 19/5/1987 (có mặt).
- Địa chỉ: Khu dân cư A, ấp L, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quãng Ngãi .
- * Bị đơn: Ông Ngô Văn T1, sinh ngày 15/02/1991 (vắng mặt).
- Địa chỉ: Ấp I, xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 06/5/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Cao Thị Minh T trình bày: Vào năm 2011, bà T và ông T1 có quen biết nhau, có tình cảm và được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 22/02/2011. Trong quá trình chung sống, bà và ông T1 có 02 người con chung tên Ngô Gia B, sinh ngày 28/8/2011 và Ngô Thì T2, sinh ngày 06/3/2014, hiện đang sống chung với ông T1 và ông nội, bà nội của hai cháu.
Nguyên nhân mâu thuẫn: Thời gian đầu sống chung rất hạnh phúc, thời gian gần đây bà và ông T1 thường bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cải vã nhau, bà và ông T1 không có tiếng nói chung, từ đó bà và ông T1 không sống chung với nhau từ năm 2015 cho đến nay. Nhận thấy, vợ chồng sống chung không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không duy trì được, nên bà T làm đơn yêu cầu được ly hôn với anh Ngô văn T3.
Nay bà Cao Thị Minh T yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về hôn nhân: Bà Cao Thị Minh T yêu cầu được ly hôn với ông Ngô Văn T1.
- Về con chung: Tên Ngô Gia B, sinh ngày 28/8/2011 và Ngô Thì T2, sinh ngày 06/3/2014, chị T yêu cầu giao cháu Ngô Thì T2 cho ông Ngô Văn T1 trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi, bà T không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với cháu Ngô Gia B, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn ông Ngô Văn T1 được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, phiên hòa giải và giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng ông T1 đều vắng mặt không rõ lý do và không có ý kiến trả lời cho Tòa án biết đối với yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà T.
Tại phiên tòa kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án; Bị đơn chưa chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện xin ly hôn bà Cao Thị Minh T đối với ông Ngô Văn T1, cho bà T được ly hôn với ông T1 theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình; Về con chung tên Ngô Gia B, sinh ngày 28/8/2011 và Ngô Thì T2, sinh ngày 06/3/2014. Xét thấy, hiện nay 02 cháu đang sống chung với bà nội là mẹ ruột của ông T1 ổn định bên bà nội và đang đi học, để đảm bảo về quyền lợi của các cháu, do đó cần giao cho ông T1 tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục 02 con chung cho chị T không ai được quyền cản trở theo quy định tại Điều 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tại phiên toà, bà Tiên đồng ý cấp dưỡng nuôi 02 con chung cháu T2 và cháu B mỗi tháng 1.500.000 đồng/hai cháu (750.000 đồng/cháu/tháng) cho đến khi 02 cháu đủ 18 tuổi, nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện trên của bà T; Tài sản chung, nợ chung không có bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết, đề nghị Hội đồng xét xử không đặt xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến trình bày của đương sự. Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay vắng mặt bị đơn ông Ngô Văn T1. Xét thấy, ông T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn ông T1 theo quy định pháp luật.
[2] Tại phiên toà, nguyên đơn bà T xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể bà Tiên đồng ý giao 02 con chung tên Ngô Gia B, sinh ngày 28/8/2011 và Ngô Thì T2, sinh ngày 06/3/2014 cho ông T1 được trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi, bà T cấp dưỡng nuôi 02 con chung cháu T2 và cháu B mỗi tháng 1.500.000 đồng/hai cháu (750.000 đồng/cháu/tháng) cho đến khi 02 cháu đủ 18 tuổi. Xét thấy, việc thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu, do đó căn cứ khoản 1 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về nội dung vụ án: Bà T và ông T1 có quen biết nhau, có tình cảm và được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 22/02/2011. Trong quá trình chung sống, bà và ông T1 có 02 người con chung tên Ngô Gia B, sinh ngày 28/8/2011 và Ngô Thì T2, sinh ngày 06/3/2014, hiện đang sống chung với ông T1 và ông nội, bà nội của hai cháu. Thời gian đầu sống chung rất hạnh phúc, thời gian gần đây bà và ông T1 thường bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cải vã nhau, bà và ông T1 không có tiếng nói chung, từ đó bà và ông T1 không sống chung với nhau từ năm 2015 cho đến nay. Nhận thấy, vợ chồng sống chung không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không duy trì được, nên bà T làm đơn yêu cầu được ly hôn với anh Ngô văn T3. Từ đó các bên phát sinh tranh chấp.
[4] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, bà T và ông T3 sống chung với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 22/02/2011, nên quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông T3 là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ khi có phát sinh tranh chấp. Tuy nhiên, theo bà T trình bày, thì hôn nhân giữa bà và ông T3 sống chung không có hạnh phúc, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không quan tâm đến cuộc sống gia đình, không còn tình cảm với nhau và không sống chung với nhau từ năm 2015 cho đến nay, nên bà T nộp đơn xin ly hôn với ông T3. Xét yêu cầu xin ly hôn của bà T đối với ông T3 thì thấy rằng, đến thời điểm hiện nay mâu thuẫn hôn nhân giữa bà và ông T3 đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, tình trạng hôn nhân không thể kéo dài, không hàn gắn được tình cảm vợ chồng và bị đơn ông T3 vắng mặt cũng không có ý kiến gì phản đối với yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn bà T, nên Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T đối với ông T3.
[5] Về con chung: Bà T và ông T3 có 02 con chung tên Ngô Gia B, sinh ngày 28/8/2011 và Ngô Thì T2, sinh ngày 06/3/2014, bà T có yêu cầu giao hai con chung cho ông T3 được quyền tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi. Bà Tiên đồng ý cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi tháng 1.500.000 đồng/hai cháu (750.000 đồng/cháu/tháng) cho đến khi 02 cháu đủ 18 tuổi. Xét thấy, yêu cầu của bà T là phù hợp với điều kiện thực tế và quy định của pháp luật, B1 cháu T2 và cháu B đang sống chung với bà nội là mẹ ruột của ông T3 đang đi học rất cần sự chăm sóc của bà nội là mẹ ruột của ông T3 và nguyện vọng của hai cháu muốn được sống chung với bà nội và ông T3, nên yêu cầu của chị T là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Dành cho bà T được quyền thăm nom con chung, không ai được quyền ngăn cản.
[7] Về tài sản chung, nợ chung: Không có, bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[8] Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[9] Ý kiến phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 244; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1,3 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Áp dụng: Điều 51; Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về hôn nhân: Bà Cao thị Minh T4 được ly hôn với ông Ngô Văn T1.
- Về con chung: Giao cháu Ngô Gia B, sinh ngày 28/8/2011 và Ngô Thì T2, sinh ngày 06/3/2014 cho ông Ngô Văn T1 tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi.
- Dành cho bà T4 được quyền thăm nom con chung, không ai được quyền ngăn cản.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, bà T4 không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Cao Thị Minh T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003774 ngày 08/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, như vậy bà T đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
- Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại vụ án theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.
- Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Tiên đồng ý cấp dưỡng nuôi hai con chung. Buộc bà T4 phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000 đồng/hai cháu (750.000 đồng/cháu/tháng) cho đến khi 02 cháu đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng kể từ ngày tuyên án. Địa điểm cấp dưỡng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Nhẫn |
Bản án số 76/2024/HNGĐ-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẺ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 76/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẺ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
