Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG ANH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2024/HSST.

Ngày: 24 - 4 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông: Nguyễn Văn Khánh.

- Thư ký phiên tòa: Ông: Hoàng Xuân Hiếu– Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông: Nguyễn Doãn Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 24/4/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai (thủ tục rút gọn) vụ án hình sự thụ lý số: 71/2024/HSST ngày 12/4/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2024/QĐXXST - HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Trọng H, sinh năm 1989 tại Hà Nội. Nơi thường trú: Thôn G, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Trọng H1 (c); Con bà: Đặng Thị N, sinh năm 1965; Vợ, con: Chưa; Tiền án tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 27/5/2010, bị Toà án nhân dân huyện Đông Anh xử phạt 12 tháng tù về tội Cướp giật tài sản (Bản án số 94/2010/HSST). Bị cáo đã chấp hành xong các quyết định của bản án và đã được xoá án. Ngày 16/9/2022, bị Công an huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích với số tiền 5.750.000 đồng (đã nộp phạt ngày 04/10/2022).Bị cáo bị tạm giữ từ 23/3/2024, tạm giam: 26/3/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
  2. Nguyễn Trọng T, sinh năm 1993 tại Hà Nội. Nơi thường trú: Thôn G, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 1/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Trọng N1, sinh năm 1961; Con bà: Hoàng Thị Ý, sinh năm 1960; Vợ, con: chưa; Tiền án tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/3/2024 đến ngày 25/3/2024. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
  3. Nguyễn Trọng V, sinh năm 1972 tại Hà Nội. Nơi thường trú: Thôn G, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Trọng T1 (đã chết); Con bà: Đỗ Thị Đ, sinh năm 1940; Vợ: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1974, có 03 con (lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2004); Tiền án tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/3/2024 đến ngày 25/3/2024. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
  4. Nguyễn Văn L, sinh năm 1995 tại Hà Nội; Nơi thường trú: Thôn G, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn L1, sinh năm 1969; Con bà: Phạm Thị N2, sinh năm 1973; Vợ: Nguyễn Thị B, sinh năm 1998 (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2015; Tiền án tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/3/2024 đến ngày 25/3/2024. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
  5. Lê Anh H2, sinh năm 1992 tại Hà Nội; Nơi thường trú: Thôn G, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Anh T3, sinh năm 1972; Con bà: Trần Thị L2, sinh năm 1966; Vợ, con: chưa; Tiền án tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/3/2024 đến ngày 25/3/2024. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
  6. Nguyễn Trọng H3, sinh năm 1981 tại Hà Nội; Nơi thường trú: Thôn G, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Trọng L3, sinh năm 1957; Con bà: Nguyễn Thị T4, sinh năm 1957; Vợ: Nguyễn Thị Vân A, sinh năm 1986, có 04 người con (lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2017); Tiền án tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/3/2024 đến ngày 25/3/2024. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng công khai tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 22/3/2024, Nguyễn Trọng H, Nguyễn Trọng T, Nguyễn Văn L, Nguyễn Trọng V, Lê Anh H2, Nguyễn Trọng H3ngồi uống nước tại nhà H ở thôn G, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Khi đang ngồi uống nước, mọi người cùng rủ nhau đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức chơi “liêng”. Các đối tượng đi vào bên trong phòng ngủ tầng một của nhà H đánh bạc, tại sàn nhà phòng ngủ của H đã trải sẵn 01 chiếu cói, H đi lấy 01 bộ bài tú lơ khơ (gồm 52 quân bài) từ phòng khách mang vào để đánh bạc. Do Lê Anh H2 không mang theo tiền mặt nên đã mượn điện thoại di động Iphone 12 Promax, màu đen của Nguyễn Văn L đăng nhập tài khoản ngân hàng rồi chuyển khoản số tiền 500.000 đồng cho Nguyễn Trọng T để lấy tiền mặt phục vụ việc đánh bạc.

Các đối tượng thống nhất đánh bạc dưới hình thức chơi “liêng”, cách thức đánh bạc như sau: Mức độ sát phạt là mỗi người chơi góp số tiền 10.000 đồng vào giữa rồi chia mỗi người 3 cây bài theo chiều kim đồng hồ. Người chia bài là người thắng ván bạc trước. Sau khi chia mỗi người 3 cây bài, người chơi xem điểm bài của mình rồi quyết định có đi tiền hay bỏ bài. Người chia bài có quyền tố trước, mức tố thấp nhất là 10.000 đồng, cao nhất là 50.000 đồng. Người chơi được tố lần lượt. Người tố sau tố bằng hoặc cao hơn số tiền của người tố trước và lần lượt như vậy cho đến khi người cùng tố thống nhất không tố thêm để mở bài. Người chơi nào không tố thì bỏ bài nếu đến lượt. Căn cứ vào điểm của ba cây bài, người chơi điểm to nhất so với người tố còn lại sẽ là người thắng ván bài đó và được nhận toàn bộ số tiền góp ban đầu và số tiền người chơi đã tố trong ván. Trong trường hợp người chơi tố tiền mà người chơi còn lại không theo mà bỏ bài thì cũng là người thắng ván bạc đó. Nếu bài cùng điểm, cùng “liêng” (bộ ba cây liên tiếp nhau) thì xét chất của cây bài to nhất (chất rô là to nhất, tiếp đến là cơ, tép và bé nhất là chất bích). Nếu người chơi được bài “sáp” (bộ ba cây cùng số) thì những người chơi còn lại mỗi người đưa thêm số tiền 50.000 đồng cho người thắng. Các đối tượng chơi đánh bạc đến 22 giờ 15 phút cùng ngày thì bị Công an xã V vào bắt quả tang đưa về trụ sở giải quyết.

Vật chứng, đồ vật, tài sản tạm giữ gồm:

  • - 01 chiếu cói;
  • - 01 bộ bài tú lơ khơ (gồm 52 quân bài);
  • - Số tiền 2.330.000 đồng trên chiếu bạc.

- Tạm giữ trên người của những người đánh bạc gồm:

  • + Nguyễn Trọng H: số tiền 600.000 đồng.
  • + Nguyễn Trọng T: số tiền 1.900.000 đồng; 01 ví da màu nâu; 01 điện thoại di động Realme C15 màu xanh, số imei1: 863373052257430, số imei2: 863373052257422, gắn thẻ sim số thuê bao: 0868602283.
  • + Nguyễn Văn L: 01 điện thoại Iphone 12 Promax, màu đen, số imeil: 353776396542019, số imei2: 353776396518688, gắn thẻ sim số thuê bao: 0366851995.
  • + Nguyễn Trọng V: số tiền 500.000 đồng; 01 ví da màu nâu; 01 điện thoại Samsung Galaxy A20s, màu đen, số imeil: 353246113740486, số imei2: 353247113740484, gắn thẻ sim số thuê bao 0377769169.
  • + Lê Anh H2: 01 điện thoại Nokia 105 màu đen, số imeil: 357331081989707, số imei2: 357331081989715, gắn thẻ sim số thuê bao 0397992129.
  • + Nguyễn Trọng H3: số tiền 70.000 đồng; 01 ví da màu đen; 01 điện thoại OPPO A96, màu đen, số imeil: 863827056334552, số imei2: 863827056334545, lắp thẻ sim1 số thuê bao 0342413081, lắp thẻ sim2 số thuê bao 0376750616.

Quá trình điều tra, các đối tượng khai nhận số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc như sau:

  • - Nguyễn Trọng H khai: Chiếu và bộ bài có sẵn tại nhà H, H là người người đi lấy bộ bài, sử dụng 700.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt đang thắng được 260.000 đồng.
  • - Nguyễn Trọng T khai: Mang theo 2.160.000 đồng, sau đó đưa cho H2 500.000 đồng; còn 1.660.000 đồng để đi đánh bạc. Khi bị bắt thì thắng được 570.000 đồng.
  • - Nguyễn Văn L khai: Mang theo 500.000 đồng đi đánh bạc, khi bị bắt thua 290.000 đồng.
  • - Nguyễn Trọng V khai: Mang 800.000 đồng đi đánh bạc, khi bị bắt thắng 340.000 đồng.
  • - Lê Anh H2 khai: Mang 500.000 đồng đi đánh bạc, khi bị bắt thua 100.000 đồng.
  • - Nguyễn Trọng H3 khai: Mang 400.000 đồng đi đánh bạc, khi bị bắt thua 100.000 đồng.

Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 5.400.000 đồng.

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 02/QĐ-VKS ngày 10/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh truy tố Nguyễn Trọng H, Nguyễn Trọng T, Nguyễn Văn L, Nguyễn Trọng V, Lê Anh H2 và Nguyễn Trọng H3 về tội Đánh bạc, quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Quyết định truy tố. Nay các bị cáo rất ân hận về hành vi của mình và đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, để có nhiều cơ hội sửa chữa lỗi lầm của mình.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật như Quyết định truy tố đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Trọng H với mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù.

Đề nghị Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i,s (thêm điểm p đối với bị cáo T) khoản 1, (thêm khoản 2 đối với bị cáo V) Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Trọng T với mức án từ 9 tháng đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 đến 24 tháng.

Xử phạt: Nguyễn Văn L với mức án từ 6 tháng đến 9 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 đến 18 tháng.

Xử phạt: Nguyễn Trọng V với mức án từ 6 tháng đến 9 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 đến 18 tháng.

Xử phạt: Lê Anh H2 với mức án từ 6 tháng đến 9 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 đến 18 tháng.

Xử phạt: Nguyễn Trọng H3 với mức từ 6 tháng đến 9 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 đến 18 tháng.

Về vật chứng cho tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ, 01 chiếu cói, 03 ví da; Tịch thu phát mại sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại Iphone 12 Promax, màu đen, số imeil: 353776396542019, số imei2: 353776396518688, gắn thẻ sim số thuê bao: 0366851995, 01 điện thoại di động Realme C15 màu xanh, số imeil: 863373052257430, số imei2: 863373052257422, gắn thẻ sim số thuê bao: 0868602283; Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 5.400.000₫.

Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, Điều tra viên Công an huyện Đ đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
  2. [2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

    Tại phiên tòa, cũng như quá trình điều tra các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Quyết định truy tố đã nêu. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ. Do đó có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 22/3/2024 tại gia đình Nguyễn Trọng H ở thôn G, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội Nguyễn Trọng H, Nguyễn Trọng T, Nguyễn Văn L, Nguyễn Trọng V, Lê Anh H2, Nguyễn Trọng H3 ngồi uống nước rồi cùng rủ nhau sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân có sẵn đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức chơi “liêng” với tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 5.400.000 đồng thì bị Công an xã V bắt quả tang. Hành vi ấy của các bị cáo đã cấu thành tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh truy tố các bị cáo theo Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 02/QĐ-VKS ngày 10/4/2024 là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.

    Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng. Do đó việc đưa các bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật là cần thiết nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến vai trò, nhân thân của từng bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Bộ luật hình sự quy định để có một mức hình phạt cho tương xứng.

    Trong vụ án này các bị cáo phạm tội có tính chất đồng phạm giản đơn, không phân hóa vai trò, nên chỉ căn cứ vào số tiền đánh bạc và nhân thân của các bị cáo để có một mức án tương xứng. Các bị cáo Nguyễn Trọng T, Nguyễn Văn L, Nguyễn Trọng V, Lê Anh H2, Nguyễn Trọng H3 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đó là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo Nguyễn Trọng T là người khuyết tật nặng nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo V là người đang nuôi mẹ già và thờ cúng liệt sĩ nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, còn bị cáo Nguyễn Trọng H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

    Về hình phạt: Các bị cáo Nguyễn Trọng T, Nguyễn Văn L, Nguyễn Trọng V, Lê Anh H2, Nguyễn Trọng H3 có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhận thức pháp luật còn hạn chế lại không có tình tiết tăng nặng nên mở lượng khoan hồng của pháp luật cho các bị cáo hưởng mức án ngang nhau và cho cải tạo tại địa phương cũng có tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Riêng bị cáo Nguyễn Trọng H đã bị Toà án nhân dân huyện Đông Anh xử phạt vào ngày 27/5/2010 với mức án 12 tháng tù về tội Cướp giật tài sản và ngày 16/9/2022 bị Công an huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích tuy tiền án và tiền sự đã được xóa nhưng không lấy đó làm bài học mà đến nay lại tiếp tục phạm tội, nên tình tiết giảm nhẹ chỉ để xem xét giảm nhẹ cho một phần hình phạt còn không cho hưởng án treo.

  3. [3] Đối với anh Nguyễn Văn B1 không tham gia đánh bạc, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập xử lý, nên không xét.
  4. [4] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều có thu nhập thấp, lại không có thu nhập từ hành vi phạm tội nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo là phù hợp.
  5. [5] Về vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện Đ thu và xử lý, còn chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh 01 bộ bài tú lơ khơ, 01 chiếu cói, 03 ví da, 01 điện thoại Iphone 12 Promax, màu đen, số imeil: 353776396542019, số imei2: 353776396518688, gắn thẻ sim số thuê bao: 0366851995, 01 điện thoại di động Realme C15 màu xanh, số imeil: 863373052257430, số imei2: 863373052257422, gắn thẻ sim số thuê bao: 0868602283 và 5.400.000đồng. Xét số vật chứng trên đã sử dụng vào việc phạm tội, không ai xin lại, giá trị sử dụng không còn nên tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài, 01 chiếu cói, 03 ví da, phát mại 02 điện thoại nộp vào ngân sách Nhà nước. Đối với số tiền 5.400.000đồng dùng vào việc đánh bạc nên tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
  6. [6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật, trừ bị cáo Nguyễn Trọng T là người khuyết tật đang được hưởng trợ cấp hàng tháng nên cho miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trọng H, Nguyễn Trọng T, Nguyễn Văn L, Nguyễn Trọng V, Lê Anh H2 và Nguyễn Trọng H3 phạm tội Đánh bạc.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Trọng H 12 (mười hai) tháng tù về tội Đánh bạc, thời hạn tù tính từ ngày 23/3/2024.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm i, s, p khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Trọng T 9 (chín) tháng tù về tội Đánh bạc, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Văn L 6 (sáu) tháng tù về tội Đánh bạc, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án.

Xử phạt: Lê Anh H2 6 (sáu) tháng tù về tội Đánh bạc, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án.

Xử phạt: Nguyễn Trọng H3 6 (sáu) tháng tù về tội Đánh bạc, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Trọng V 6 (sáu) tháng tù về tội Đánh bạc, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao các bị cáo Nguyễn Trọng T, Nguyễn Văn L, Nguyễn Trọng V, Lê Anh H2 và Nguyễn Trọng H3 cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về vật chứng:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ, 01 chiếu cói, 03 ví da.
  • - Tịch thu phát mại nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại Iphone 12 Promax, màu đen, số imeil: 353776396542019, số imei2: 353776396518688, gắn thẻ sim số thuê bao: 0366851995 và 01 điện thoại di động Realme C15 màu xanh, số imeil: 863373052257430, số imei2: 863373052257422, gắn thẻ sim số thuê bao: 0868602283.
  • - Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 5.400.000₫ (Năm triệu bốn trăm nghìn đồng).

(Số tiền và vật chứng trên được chuyển theo Giấy ủy nhiệm chi vào tài khoản Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh ngày 12/4/2024 và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/4/2024 giữa Công an huyện Đ với Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh)

Án phí: Bị cáo Nguyễn Trọng H, Nguyễn Văn L, Nguyễn Trọng V, Lê Anh H2 và Nguyễn Trọng H3 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Trọng T được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKS ND huyện Đông Anh;
  • - Công an huyện Đông Anh;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/HSST ngày 24/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 76/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trọng Hậu và đồng phạm - Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger