Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NGÃI

Bản án số: 76/2024/HS-ST

Ngày: 23 - 8 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Toại.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành và ông Nguyễn Xuân Nam.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Phong - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Lương Thanh Tú – Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi; Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 97/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Quang C, sinh ngày 29/9/2004 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: tổ dân phố L, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: thợ cắt tóc; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Thanh M và con bà: Bùi Thị L; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Q từ ngày 04/10/2023 đến nay và có mặt tại phiên tòa.

Nhân thân: Ngày 20/3/2024, Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi ra Quyết định đình chỉ vụ án số: 01/2024/HSST-QĐ đối với Bùi Quang C, bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự theo Cáo trạng số: 03/CT-VKSTPQN ngày 11/12/2023.

* Người bào chữa theo luật định cho bị cáo Bùi Quang C: Luật sư Trịnh Văn H – Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Q; địa chỉ: Khu dân cư Đ, thôn C, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Trương Thị N, sinh năm: 1963; nơi cư trú: Tổ A, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 8/2023, bị cáo Bùi Quang C (sau đây viết tắt là: bị cáo) bắt đầu sử dụng ma tuý nên nảy sinh ý định mua ma tuý bán lại để kiếm tiền tiêu xài. Sau đó, bị cáo gặp người thanh niên tên P (không rõ nhân thân, lai lịch của P) nhờ mua giúp ma tuý cho bị cáo để bán. Bị cáo đưa số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) nhờ P mua giúp 02 (hai) hộp mười ma tuý “khay” và 50 (năm mươi) viên ma tuý “kẹo” đưa cho bị cáo đem về cất giấu tại nhà để phân chia nhỏ số ma túy này ra bán cho nhiều người (bị cáo không biết nhân thân, lai lịch); số tiền bán ma tuý có được bị cáo tiêu xài cá nhân và tích góp tiếp tục mua ma tuý để bán lại kiếm lời.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận số ma túy mua như trên, bị cáo đã bán được số tiền khoản 40.000.000 đồng; bị cáo sử dụng số tiền 30.000.000đồng (ba mươi triệu đồng) mua lại ma túy để tiếp tục bán như nêu dưới đây, số tiền còn lại bị cáo tiêu xài hết.

Ngày 25/9/2023, bị cáo được bạn bè giới thiệu cho một người thanh niên ở thành phố Hồ Chí Minh (không biết nhân thân, lai lịch của người này) có bán ma túy nên bị cáo dùng số điện thoại 0345.685.xxx gọi hỏi mua 50 (năm mươi) viên ma tuý “kẹo” và 05 (năm) hộp mười ma tuý “khay” với số tiền 30.000.000đồng (ba mươi triệu đồng) rồi bị cáo nhờ bạn bè chuyển số tiền trên cho đối tượng bán ma tuý. Đến khoảng 07 giờ 00 phút ngày 27/9/2023, có số điện thoại của người lạ gọi điện thoại cho bị cáo bảo đến gần cây đa đầu cầu T để nhận hàng (bị cáo biết là nhận ma tuý) nên bị cáo đi xe máy đến địa điểm trên và nhận gói hàng (bên trong có chứa ma tuý) mang về cất giấu tại nhà ở Tổ dân phố L, phường T rồi phân chia nhỏ ra để bán. Tối ngày 03/10/2023, bị cáo bán ma tuý cho người khách lạ mặt (không rõ nhân thân, lai lịch) tại quán K với số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) và bị cáo đã tiêu xài số tiền 510.000 đồng (Năm trăm mười nghìn đồng), còn lại số tiền 990.000 đồng (Chín trăm chín mươi nghìn đồng). Khoảng 00 giờ 25 phút ngày 04/10/2023, bị cáo đến trước Quán K để tiếp tục bán 03 (ba) viên ma tuý “kẹo” và nửa hộp năm ma tuý "khay” cho một người phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch) với số tiền 2.400.000 đồng (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng); trong lúc đang chờ giao ma túy và nhận tiền thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh Q phát hiện, bắt quả tang; tạm giữ ma túy trên người của bị cáo với khối lượng 7,06 gam ma tuý MDMA; 6,65 gam ma tuý Ketamine; 6,25 gam ma tuý Methamphetamine và một số đồ vật khác có liên quan.

Ngày 04/10/2023, lực lượng chức năng tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của bị cáo tại Tổ dân phố L, phường T, thành phố Q thu giữ: 11,40 gam ma tuý MDMA; 32,18 gam ma tuý Ketamine nhiều đồ vật khác có liên quan. Bị cáo khai nhận đây là số ma túy do bị cáo mua về chia nhỏ và bán cho người khác để thu lợi bất chính.

Căn cứ khoản 3, Điều 5, Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự thì tổng tỷ lệ phần trăm khối lượng các chất ma túy so với mức tối thiểu của từng chất là: ((18,46gam + 6,25gam + 38,83 gam)/30gam x 100% = 82,36%) + (38,83 gam/100gam x 100% = 38,83%). Tổng cộng: 82,36% + 38,83% = 121,19% > 100% nên thuộc trường hợp quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Về kết luận giám định:

  • - Tại Kết luận giám định số 968/KL-KTHS, ngày 11/10/2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh Q kết luận: Tổng khối lượng ma túy thu giữ gồm: Tổng khối lượng mẫu ma túy loại Methamphetamine gửi giám định là 6,25 gam; tổng khối lượng mẫu ma túy loại MDMA gửi giám định là 18,46 gam và tổng khối lượng mẫu ma túy loại Ketamine gửi giám định là 38,83 gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

MDMA là chất ma túy nằm trong danh mục IB, STT 11, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Ketamine là chất ma túy nằm trong danh mục III, STT 40, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chỉnh phủ (Bút lục 55-57).

  • - Ngày 26/10/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Q ra Quyết định trưng cầu giám định số 182/QĐ-CSMT, trưng cầu Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng giám định chất ma tuý, đối với 78 (bảy mươi tám) chai thuốc lá điện tử thu giữ của Bùi Quang C. Tại Bản kết luận giám định số 2258/KL-KTHS ngày 15/11/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận: Mẫu chất lỏng bên trong các mẫu vật gửi giám định đều không tìm thấy các chất ma tuý.
  • Ngoài ra, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Q đã trưng cầu Phòng K1 - Công an tỉnh Q giám định dữ liệu điện tử đối với 02 (hai) điện thoại di động thu giữ của Bùi Quang C.
  • * Về thu giữ vật chứng: Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh Q đã tạm giữ các vật chứng có liên quan đến hành vi phạm tội như sau:
  • 01 (một) phong bì số 968/KTHS(GĐ-2023), bên trong đựng mẫu ma túy hoàn lại sau quá trình giám định.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, bên trong có gắn 01 thẻ sim của Bùi Quang C.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng nhạt, bên trong có gắn 01 thẻ sim của Bùi Quang C.
  • 01 (một) khẩu trang màu trắng, 01 (một) túi nhựa màu hồng; 01 (một) hộp nhựa màu đen; 30 (ba mươi) túi ny lông màu trắng viền đỏ có kích thước (3x2,5)cm; 01 (một) cân điện tử màu đen, trên bề mặt có chữ AMPUT.
  • 01 (một) thẻ ATM của Bùi Quang C.
  • 01 (một) xe máy màu xám, nhãn hiệu SH Mode biển số 76B1-460.66.
  • Tiền ngân hàng N1 990.000 đồng (Chín trăm chín mươi nghìn đồng).

Tại bản Cáo trạng số 59/CT-VKS ngày 13/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi truy tố Bùi Quang C về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: điểm h khoản 3 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố Bùi Quang C phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy", xử phạt bị cáo Bùi Quang C mức án từ 15 đến 16 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử lý vật chứng, như sau:

1. Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau đây:

  • 01 (một) phong bì số 968/KTHS(GĐ-2023), bên trong đựng mẫu ma túy hoàn lại sau quá trình giám định.
  • 01 (một) khẩu trang màu trắng, 01 (một) túi nhựa màu hồng; 01 (một) hộp nhựa màu đen; 30 (ba mươi) túi ny lông màu trắng viền đỏ có kích thước (3x2,5)cm; 01 (một) cân điện tử màu đen, trên bề mặt có chữ AMPUT.
  • 02 thẻ sim điện thoại, vì 02 thẻ sim này không còn giá trị sử dụng.

2. Tịch thu sung ngân sách nhà nước các tài sản, đồ vật sau:

  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng nhạt của Bùi Quang C.
  • Số tiền bán ma túy 1.500.000 đồng nhưng được khấu trừ số tiền 990.000 đồng (Chín trăm chín mươi nghìn đồng) đã tạm giữ của Bùi Quang C, còn lại buộc bị cáo Bùi Quang C phải tiếp tục nộp số tiền 510.000 đồng (Năm trăm mười nghìn đồng).

Tiếp tục tạm giữ số tiền 990.000 đồng (chín trăm chín mươi nghìn đồng) đã thu giữ của Bùi Quang C để đảm bảo thi hành án.

3. Trả lại các đồ vật sau đây cho Bùi Quang C 01 (một) thẻ ATM.

4. Giao lại 01 (một) xe máy màu xám, nhãn hiệu SH Mode biển số 76B1-460.66 cho Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Q tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.

Ý kiến tranh luận của bị cáo: Bị cáo không bào chữa, tranh luận gì.

Ý kiến tranh luận của những người tham gia tố tụng khác: Không có.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm về đoàn tụ gia đình, trở thành công dân sống có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào chữa. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào chữa đã thực hiện là hợp pháp.

[1.2] Những tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập là phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[1.3] Tại phiên tòa, người có quyền, nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị N đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt mà không có lý do chính đáng. Xét thấy, việc vắng mặt bà N không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bà N.

[1.4] Luật sư Trịnh Văn H, người bào chữa cho bị cáo Bùi Quang C vắng mặt và có đơn xin hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo Bùi Quang C không yêu cầu hoãn phiên tòa vì lý do vắng mặt người bào chữa, đề nghị Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt người bào chữa và bị cáo yêu cầu được tự bào chữa tại phiên tòa sơ thẩm. Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 291 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt người bào chữa.

[2] Về nội dung:

[2.1] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với phần tóm tắt nội dung vụ án như trên. Bị cáo thống nhất với các bản kết luận giám định nêu trên. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, những người tham gia tố tụng khác và các kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Hội đồng xét xử sơ thẩm đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Bùi Quang C là người đủ năng lực nhận thức, điều khiển hành vi, biết được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì để có tiền tiêu xài và sử dụng ma túy, bị cáo đã 02 lần mua ma túy của đối tượng P và một đối tượng không rõ họ, tên (hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch của hai đối tượng này) mang về cất giấu tại nhà ở Tổ dân phố L, phường T, thành phố Q rồi phân chia nhỏ ra để bán lại kiếm lời.

Sau khi mua ma túy, vào ngày 03/10/2023, bị cáo bán ma tuý cho người khách lạ mặt (không rõ nhân thân, lai lịch) tại quán K với số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) và vào khoảng 00 giờ 25 phút ngày 04/10/2023, bị cáo đến trước cổng quán K để tiếp tục bán 03 (ba) viên ma tuý “kẹo” và nửa hộp năm ma tuý “khay” cho một người phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch) với số tiền 2.400.000 đồng (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng), trong lúc đang chờ giao ma túy và nhận tiền thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh Q bắt quả tang. Sau đó, khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo tại nhà ở tại tổ dân phố L, phường T, thành phố Q thì thu giữ được nhiều loại ma túy khác nhau.

Trên cơ sở Kết luận giám định số 968/KL-KTHS, ngày 11/10/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Q, xác định được tổng khối lượng ma túy do bị cáo Bùi Quang C tàng trữ nhằm mục đích để mua bán gồm: tổng khối lượng mẫu ma túy loại Methamphetamine gửi giám định là 6,25 gam; tổng khối lượng mẫu ma túy loại MDMA gửi giám định là 18,46 gam; tổng khối lượng mẫu ma túy loại Ketamine gửi giám định là 38,83 gam.

Căn cứ khoản 3, Điều 5, Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự thì tổng tỷ lệ phần trăm khối lượng các chất ma túy so với mức tối thiểu của từng chất là: ((18,46gam + 6,25gam + 38,83 gam)/30gam x 100% = 82,36%) + (38,83 gam/100gam x 100% = 38,83%). Tổng cộng: 82,36% + 38,83% = 121,19% > 100% nên thuộc trường hợp quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo Bùi Quang C như trên đã đủ yếu tố cấu thành “Tội mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi truy tố đối với bị cáo Bùi Quang C là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[2.2] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Quang C gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội; gây hoang mang, lo lắng cho nhân dân, nhất là các bậc phụ huynh có con, em là học sinh, sinh viên. Hành vi của bị cáo không những gây rất nhiều hệ lụy cho xã hội, mà còn cho chính bản thân và gia đình của bị cáo.

Bị cáo là người có đủ sức khỏe để lao động nhưng không lo tu chí làm ăn lương thiện mà có tiền sử nhiều lần sử dụng ma túy, để có tiền tiêu xài cá nhân và sử dụng ma túy, bị cáo không những xem thường pháp luật mà còn bất chấp an toàn sức khỏe tâm thần, tính mạng của nhiều người trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần phải xử phạt mức án nghiêm khắc đối với bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

[2.3] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

[2.3.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có hành vi nhiều lần bán ma túy nên phải áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

[2.3.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 để xem xét quyết định hình phạt nhẹ hơn cho bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[2.4] Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền bổ sung đối với bị cáo C số tiền 20.000.000đồng (hai mươi triệu đồng).

[2.5] Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung 2017; Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

Đối với tiền thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma túy: Lần 01 vào khoảng tháng 8/2023, bị cáo Bùi Quang C mua 20.000.000 đồng ma túy khay và kẹo về chia nhỏ ra bán. Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã bán được 40.000.000 đồng cho các đối tượng sử dụng ma túy. Sau đó, ngày 25/9/2023 bị cáo C sử dụng tiền đã bán ma túy được là 30.000.000 đồng để tiếp tục mua ma túy khay và kẹo về chia nhỏ ra tiếp tục bán cho các đối tượng sử dụng ma túy, còn lại 10.000.000 đồng tiêu xài cá nhân. Sau khi mua ma túy, vào tối ngày 03/10/2023 bị cáo đã bán ma túy cho 01 đối tượng tại quán K với số tiền 1.500.000 đồng. Các lần mua ma túy như trên, bị cáo đã giao tiền cho đối tượng bán ma túy. Do đó, buộc bị cáo Bùi Quang C phải nộp lại số tiền bị cáo thu lợi bất chính từ việc mua bán ma túy là 11.500.000 đồng, trong đó: 10.000.000 đồng bị cáo thu lợi bất chính, đã tiêu xài cá nhân và 1.500.000 đồng bán ma túy vào tối ngày 03/10/2023) để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

[2.6] Về vấn đề khác:

[2.6.1] Đối với người thanh niên tên P là người mua dùm ma túy cho Bùi Quang C: Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Q đã tiến hành xác minh tại phường T, thành phố Q nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch đối tượng P nên không có cơ sở xử lý.

[2.6.2] Đối với người thanh niên bán ma tuý cho C ở Thành phố Hồ Chí Minh: Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Q chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên không có cơ sở xử lý.

[2.6.3] Đối với người sử dụng số điện thoại 0879.752.xxx liên lạc mua ma tuý của Bùi Quang C: Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Q đã tiến hành xác minh xác định: Chủ thuê bao đăng ký sim số này là Nguyễn Thị Thu Đ, sinh ngày 12/12/1998; hộ khẩu thường trú: thôn B, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Tuy nhiên, quá trình làm việc nhận thấy bà Đ không sử dụng số điện thoại nêu trên và không liên quan đến vụ án nên không có cơ sở xem xét xử lý đối với bà Đ.

[2.6.4] Đối với xe mô tô, biển số 76B1-460.66 đây là phương tiện Bùi Quang C sử dụng để đi bán trái phép chất ma túy. Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là bà Trương Thị N, sinh năm 1963, trú tại Tổ A, phường T, thành phố Q, vào đầu tháng 03/2023 bà N đưa xe này cho Võ Quốc C1, sinh năm 1993, trú tại Tổ A, phường T, thành phố Q (C1 là con ruột bà N) để C1 sử dụng. Bùi Quang C khai nhận là xe mô tô nêu trên do một người bạn (không rõ nhân thân, lai lịch) đưa cho C mượn trước khi bị bắt vài ngày để đi lại. Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Q đã tiến hành xác minh Võ Quốc C1 nhưng hiện nay C1 đã đi khỏi địa phương và không biết đang ở đâu nên chưa làm việc được với C1. Do đó, chưa đủ cơ sở để xử lý đối với xe mô tô, biển số 76B1-460.66 nên giao lại chiếc xe mô tô này cho Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Q tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.

[2.6.5] Đối với hành vi mua bán 78 (bảy mươi tám) chai thuốc lá điện tử không có hóa đơn chứng từ và kinh doanh hàng hóa nhập lậu đã vi phạm hành chính, quy định tại Điều 15 Nghị định số 98/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Q đã chuyển cho Công an thành phố Q để xử lý theo thẩm quyền nên không xem xét.

[3] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung 2017; căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

[3.1] Tịch thu tiêu hủy các vật chứng có chứa ma túy và có liên quan đến hành vi mua bán ma túy, gồm có:

  • Ma túy được niêm phong trong 01 (một) phong bì số 968/KTHS (GĐ-2023), bên trong đựng mẫu ma túy hoàn lại sau quá trình giám định.
  • 01 (một) khẩu trang màu trắng, 01 (một) túi nhựa màu hồng; 01 (một) hộp nhựa màu đen; 30 (ba mươi) túi ny lông màu trắng viền đỏ có kích thước (3x2,5)cm; 01 (một) cân điện tử màu đen, trên bề mặt có chữ AMPUT.
  • 02 thẻ sim điện thoại, vì 02 thẻ sim này không còn giá trị sử dụng

[3.2] Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng nhạt của Bùi Quang C.

[3.3] Trả lại cho Bùi Quang C 01 (một) thẻ ATM của Ngân hàng V mang tên Bùi Quang C.

[3.4] Giao lại 01 (một) xe máy màu xám, nhãn hiệu SH Mode biển số 76B1-460.66 cho Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Q tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.

Các vật chứng, đồ vật, số tiền tạm giữ nêu trên, Công an tỉnh Q đã giao cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi theo Biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 26/6/2024.

[3.5] Tiếp tục tạm giữ số tiền 990.000 đồng (Chín trăm chín mươi nghìn đồng) đã tạm giữ của Bùi Quang C để đảm bảo thi hành án đối với các khoản tiền buộc bị cáo phải nộp sung ngân sách nhà nước (hiện số tiền này đang được gửi vào tài khoản số 3949.0.1054192.00000 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Q).

[4] Xét ý kiến bào chữa của người bào chữa cho bị cáo: Chấp nhận ý kiến bào chữa của người bào chữa.

[5] Xét ý kiến đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi: Về đề nghị áp dụng pháp luật, tội danh, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng, nhân thân, loại hình phạt, mức hình phạt và xử lý vật chứng như trên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Xét ý kiến tranh luận của bị cáo: Bị cáo không tranh luận nên không xem xét.

[7] Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng).

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và những người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng: Điểm h khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Bùi Quang C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

1.1. Về hình phạt chính: Xử phạt: Bùi Quang C 15 (Mười lăm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 04/10/2023).

1.2. Về hình phạt bổ sung: Xử phạt tiền đối với Bùi Quang C số tiền 20.000.000đồng (Hai mươi triệu đồng).

2. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung 2017; căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;

Buộc bị cáo Bùi Quang C phải nộp lại số tiền 11.500.000đồng (Mười một triệu, năm trăm nghìn đồng) để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 990.000 đồng (Chín trăm chín mươi nghìn đồng) đã thu giữ của Bùi Quang C để đảm bảo thi hành án, hiện số tiền này đang được gửi vào tài khoản số 3949.0.1054192.00000 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Q (Theo Ủy nhiệm chi chuyển khoản ngày 26/6/2024 giữa Cơ quan điều tra -Công an tỉnh Q và Kho bạc nhà nước tỉnh Q).

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung 2017; căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

3.1. Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau:

  • Ma túy được niêm phong trong 01 (một) phong bì số 968/KTHS(GĐ-2023), bên trong đựng mẫu ma túy hoàn lại sau quá trình giám định.
  • 01 (một) khẩu trang màu trắng, 01 (một) túi nhựa màu hồng; 01 (một) hộp nhựa màu đen; 30 (ba mươi) túi ny lông màu trắng viền đỏ có kích thước (3x2,5)cm; 01 (một) cân điện tử màu đen, trên bề mặt có chữ AMPUT.
  • 02 thẻ sim điện thoại.

3.2. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng nhạt của Bùi Quang C.

3.3. Trả lại cho Bùi Quang C 01 (một) thẻ ATM của Ngân hàng V mang tên Bùi Quang C.

3.4. Giao lại 01 (một) xe máy màu xám, nhãn hiệu SH Mode biển số 76B1-460.66 cho Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Q tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.

Các vật chứng, đồ vật, số tiền tạm giữ nêu trên, Công an tỉnh Q đã giao cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi theo Biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 26/6/2024.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc Bùi Quang C phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng);

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 23/8/2024).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Trại tạm giam - Công an tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Công an tỉnh Quảng Ngãi.
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Quang Toại

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 76/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger