|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH TỈNH KHÁNH HÒA Bản án số: 76/2024/HS-ST Ngày: 23/8/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Lãm
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Thái Việt;
Ông Phạm Tám;
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Xuân Lợi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Duy Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hoà mở phiên tòa công khai, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 64/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2024/QĐXXST - HS ngày 17 tháng 7 năm 2024 đối với:
- Bị cáo:
1. Họ và tên: Trần Minh D; giới tính: Nam; sinh ngày 16/4/1974 tại: huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Nơi cư trú: thôn T, xã V huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ và tên cha: Trần T (đã chết). Họ và tên mẹ: Võ Thị Đ (đã chết). Có 01 con sinh năm 1999.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 10/6/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 09 tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam" tại Bản án số 42/2014. Ngày 07/7/2014, bị Toà án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án số 49/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù của cả hai bản án vào ngày 31/8/2016 và đã đóng xong án phí hình sự sơ thẩm của hai bản án vào ngày 22/7/2014 và ngày 20/8/2014.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/11/2023 cho đến nay, đang giam ở trại tạm giam Công an tỉnh K; có mặt tại phiên toà.
2. Họ và tên: Lê Văn P; giới tính: Nam; sinh ngày 12/12/1993 tại: huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Nơi cư trú: thôn Q, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Quốc tịch: Việt Nam; học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ và tên cha: Lê Văn C; sinh năm: 1963. Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Kim D1; sinh năm: 1973.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị can không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt tại phiên toà.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Nguyễn Ngọc Đ1; sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ dân phố số A, thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa.
2/ Ông Ngô Văn Q; sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa.
3/ Ông Nguyễn N; sinh năm 1978; địa chỉ: Tổ dân phố số I, thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa.
Tất cả những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 07/11/2023, tổ tuần tra kiểm soát phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội về ma tuý Công an huyện V đang tiến hành tuần tra tại khu vực Chùa T1 thuộc thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa thì phát hiện Lê Văn P có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính. Qua quá trình kiểm tra, P lấy từ trong túi quần phía trước, bên phải đang mặc ra 01 túi ny lông màu trắng trong, kích thước (1,5x3,5)cm, được hàn kín, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma tuý giao nộp cùng số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng). P khai nhận tinh thể màu trắng là ma túy đá của P vừa mua từ người đàn ông tên là Sáu D2, trú tại thôn T, xã V với giá 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) với mục đích sử dụng cho bản thân, tổ tuần tra tiến hành tạm giữ tang vật, đưa P về trụ sở Công an làm việc và niêm phong mẫu vật nghi là ma tuý vào phong bì ký hiệu "A".
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Minh D (tên gọi khác là Sáu D2) tại thôn T, xã V, huyện V, Tổ tuần tra phát hiện và thu giữ:
- Trên bàn gỗ sát vách tường bên phải (hướng từ ngoài vào), trước cửa phòng ngủ có:
- + 17 (mười bảy) túi ny lông màu trắng trong, được hàn kín, bên trong chứa tinh thể rắn nghi là ma tuý, có kích thước lần lượt: 01 túi (04x02)cm, 05 túi (3,5x1,8)cm, 04 túi (3,5x1,5)cm, 07 túi (03x01)cm;
- + 01 bình thuỷ tinh bên trong có chứa nước được gắn 01 ống thuỷ tin trên miệng bình xuống, dài 20cm; bên hông miệng bình chỗ vòi ống có gắn 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng dài 30cm;
- + 01 quẹt lửa màu nâu hiệu PINGUO;
- + 01 Zippo màu vàng, không có nhãn hiệu;
- + 01 kéo bằng kim loại dài 15cm.
- Tại tủ gỗ sát vách tường bên phải hướng từ ngoài cổng nhìn vào, bên trong hộc tủ phải có 01 túi ny lông bên trong có chứa 55 (năm mươi lăm) đoạn ống hút nhựa màu trắng trong, có cùng kích thước dài 20cm.
- Một bình sứ đặt trước nền nhà, bên trong bình có 173.000 đồng (một trăm bảy mươi ba nghìn đồng), gồm nhiều tờ tiền mệnh giá khác nhau.
- Trong hộc tủ bên phải của tủ thờ đặt trước phòng khách có 01 hộp giấy màu vàng, không nhãn hiệu, bên trong có 05 gói giấy báo, mỗi gói đều chứa 10 (mười) ống thuỷ tinh, có cùng kích thước dài 20cm.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tiến hành tạm giữ toàn bộ đồ vật này và tiến hành niêm phong mẫu vật nghi là ma tuý vào phong bì ký hiệu "A1".
Ngoài ra, Trần Minh D đã tự nguyện giao nộp:
- - 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG GALAXY A13, màu đen, bên trong gắn 01 Sim Viettel số 0977.552.xxx;
- - 01 xe mô tô biển kiểm soát 79V1-135.09, loại xe YAMAHA Sirius màu đen, số khung HHY254456, số máy 3YR25445611 và 01 giấy đăng ký xe mô tô 79V1-135.09 mang tên chủ sở hữu Nguyễn Ngọc Đ1;
- - 01 xe mô tô biển kiểm soát 79V1-066.89, nhãn hiệu Sirius, màu sơn đỏ-đen, số khung RLCS640CY755697, số máy: 5C64755713;
- - 01 ví da màu đen không có nhãn hiệu;
- - 3.000 (ba nghìn) đô la Mỹ, gồm 30 tờ mệnh giá 100 đô la Mỹ;
- - 27.600.000 đồng (hai mươi bảy triệu sáu trăm nghìn đồng) gồm nhiều tờ tiền mệnh giá khác nhau (từ 10.000 đồng đến 500.000 đồng).
Trần Minh D khai đây là tài sản riêng của D có được do làm ăn, dành dụm mà có và không liên quan đến hành vi phạm tội.
Tại Bản kết luận giám định số 524/2023/KL-KTHS ngày 09/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh K kết luận:
- + Tinh thể màu trắng trong mẫu ký hiệu “A” là ma túy, khối lượng: 0,3684g (không phẩy ba sáu tám bốn gam), loại Methamphetamine.
- + Tinh thể màu trắng có trong mẫu ký hiệu “A1” là ma túy, có tổng khối lượng 6,8760g (Sáu phẩy tám bảy sáu không gam), loại Methamphetamine.
Qua quá trình điều tra Lê Văn P Khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên khoảng 11 giờ 15 phút ngày 07/11/2023, P một mình đón xe ôm đi từ nhà ở thôn Q, xã V, huyện V đến nhà Trần Minh D để mua ma tuý. Khi đi đến đầu cầu H thuộc địa phận xã V thì P kêu dừng lại và trả tiền, sau đó P một mình đi bộ đến nhà Trần Minh D3 (tên thường gọi: Sáu Dần) ở thôn T, xã V để mua ma tuý. Khi đến nơi, P đứng ngoài hàng rào kêu lớn "Ông S", đồng thời đưa ba ngón tay giơ lên, mục đích ra hiệu mua 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) ma tuý, D từ trong nhà nhìn ra yêu cầu tháo khẩu trang để xem thử có quen không, rồi đi bộ vào trong nhà lấy 01 tép ma tuý đá mang ra ngoài rào đưa cho P và lấy 300.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, P cất vào túi quần rồi đi bộ đến khu vực Chùa T1 thuộc thôn T, xã V để chờ đón xe ôm về lại nhà thì bị lực lượng Công an tuần tra phát hiện, thu giữ ma tuý của P.
Trần Minh D khai nhận: Khoảng 15 giờ 00 ngày 07/11/2023, khi D đang điều khiển xe mô tô 79V1-135.09 đi công việc vừa về đến nhà thì bị lực lượng Công an huyện V thi hành lệnh khám xét khẩn cấp nhà ở của D, lực lượng Công an phát hiện và thu giữ 17 túi ma tuý đá và nhiều đồ vật, dụng cụ mà D đang cất dấu trong nhà để phục vụ cho việc sử dụng trái phép chất ma tuý. Về nguồn gốc số ma tuý nêu trên- Dần khai: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 05/11/2023, D một mình điều khiển xe mô tô 79V1-066.98 loại xe Sirius đi vào khu vực Lầu G, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa mua từ một người đàn ông lạ mặt lớn tuổi với số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) thì nhận được 01 túi ma tuý đá lớn. Sau khi mang về lại nhà, D đã phân ra thành 20 (hai mươi) túi ma tuý nhỏ để dành sử dụng cho bản thân và đã sử dụng hết 03 túi ma tuý đá, số còn lại bị lực lượng Công an phát hiện, thu giữ khi khám xét. Đối với các đồ vật khác thu giữ khi khám xét gồm quẹt lửa, ống hút nhựa, ống thủy tinh, bình thủy tinh, kéo thì đây là dụng cụ của D chuẩn bị và dùng vào việc sử dụng ma túy đá, còn số tiền 173.000 đồng gồm nhiều tờ mệnh giá nhỏ các loại thì đây là tiền lẻ mà D cất giữ để cho con cháu khi đến nhà D chơi. Trần Minh D không thừa nhận có quen biết và bán ma tuý cho Lê Văn P vào ngày 07/11/2023, D cũng chưa từng bán trái phép chất ma tuý cho bất kỳ ai. Tại thời điểm làm việc với Cơ quan Công an, Trần Minh D dương tính với ma tuý loại Methamphetamine.
Tại Kết luận giám định số 988/1/KL-C09B ngày 08/3/2024 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ C1 tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Túi nylông màu trắng hàn kín (KT1,5x3,5cm) thu giữ từ Lê Văn P gửi đi giám định phát hiện có ADN người. Phân tích thấy lẫn nhiều nguồn ADN, không truy nguyên được cá thể cụ thể. Tại Kết luận giám định số 988-2/KL-C09B ngày 27/3/2024 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ C1 tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Không phát hiện thấy dấu vết đường vân đủ yếu tố giám định trên túi ny lông trong suốt, có kích thước 1,5cm x 3,5 cm gửi đi giám định.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hoà giữ quyền công tố luận tội và tranh luận phát biểu: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và đã được Hội đồng xét xử thẩm vấn công khai. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo Lê Văn P phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù giam. Đề nghị áp dụng điểm g khoản 2, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo Trần Minh D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", xử phạt bị cáo từ 06 năm đến 07 năm tù giam. Về vật chứng, án phí: Căn cứ Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Xét thấy, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292 và Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, thực hành quyền công tố tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên cũng như của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên và của các cơ quan tố tụng đã thực hiện là hợp pháp, đúng quy định.
[3] Tại phiên tòa, lời khai nhận của các bị cáo hoàn toàn phù hợp lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa cho thấy:
Bị cáo Lê Văn P vào ngày 07/11/2023, tại khu vực thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa, đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy trên người với khối lượng 0,3684g (không phẩy ba sáu tám bốn gam), loại Methamphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân.
Đối với bị cáo Trần Minh D: Bị cáo P khai đã mua 01 tép ma túy Methamphetamine từ Dần vào trưa ngày 07/11/2023 tại nhà ở của D thuộc thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa với số tiền 300.000 đồng. Quá trình điều tra và tại phiên toà, D không thừa nhận hành vi này, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã cho các bị cáo tiến hành đối chất (BL 155, 156); thu mẫu dấu vân tay, mẫu ADN của bị cáo D để trưng cầu giám định tại Phân viện khoa học kỹ thuật hình sự Bộ C1 tại thành phố Hồ Chí Minh so sánh với dấu vân tay và ADN trên túi nylông chứa ma túy mà D đã bán cho P nhưng không có kết quả (BL 31, 32); không trích xuất được dữ liệu camera tại các tuyến đường ngang qua khu vực gần nhà D vào trưa hôm xảy ra sự việc (BL 25), ngoài ra không có ai khác chứng kiến việc D và P có gặp nhau nên chưa đủ cơ sở kết luận D đã có hành vi mua bán ma tuý với P.
Tuy nhiên, vào thời điểm khám xét nhà của D, Cơ quan điều tra đã thu giữ được 17 túi ma tuý với tổng khối lượng 6,8760g (sáu phẩy tám bảy sáu không gam) loại Methamphetamine và nhiều đồ vật, dụng cụ mà D đang cất giấu trong nhà gồm quẹt lửa, ống hút nhựa, ống thủy tinh, bình thủy tinh, kéo. Đây là dụng cụ thường được người nghiện ma tuý chuẩn bị để sử dụng ma túy. Phiếu kết quả xét nghiệm ma tuý cùng ngày cho thấy D dương tính với ma tuý Methamphetamine (BL 129). Kết quả xét nghiệm này phù hợp với vật chứng thu giữ tại nhà, lời khai của bị cáo D trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên toà. Do đó có đủ cơ sở để kết luận, D đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại nhà của mình với tổng khối lượng 6,8760g (Sáu phẩy tám bảy sáu không gam), loại Methamphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân.
Hành vi của D đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự; hành vi của P đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy, cáo trạng số 63/CT-VKS-NT ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố các bị cáo về hành vi và tội danh như trên trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Về tình tiết định khung hình phạt, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Việc sử dụng trái phép chất ma túy còn là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác.
Về nhân thân: Bị cáo P chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội, còn bị cáo D có nhân thân xấu, đã có thời gian chấp hành hình phạt tù nhưng không lấy đó làm bài học để rèn luyện bản thân nên cần thiết phải xử lý bị cáo D nghiêm khắc, áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian cần thiết mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phát huy hiệu quả phòng ngừa chung trong xã hội.
Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với các bị cáo để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.
[5] Về vật chứng:
* Đối với Lê Văn P, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 túi ny lông màu trắng trong, kích thước (1,5x3,5)cm, được hàn kín, bên trong chứa 0,3684g (không phẩy ba sáu tám bốn gam) Methamphetamine (Đã sử dụng hết trong quá trình giám định), số tiền 1.000.000 (một triệu đồng) (Đã trả lại cho bị cáo P; BL 40).
* Đối với bị cáo Trần Minh D, Cơ quan điều tra thu giữ:
- - 01 bình sứ bên trong có số tiền 173.000đ; 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG GALAXY A13, màu đen, bên trong gắn 01 Sim Viettel số 0977.552.xxx; 01 xe mô tô biển kiểm soát 79V1-135.09, loại xe YAMAHA Sirius màu đen, số khung HHY254456, số máy 3YR25445611 và 01 giấy đăng ký xe mô tô 79V1-135.09 mang tên chủ sở hữu Nguyễn Ngọc Đ1; 01 ví da màu đen không có nhãn hiệu; 3.000 (ba nghìn) đô la Mỹ, gồm 30 tờ mệnh giá 100 đô la Mỹ; 27.600.000 đồng (hai mươi bảy triệu sáu trăm nghìn đồng) gồm nhiều tờ tiền mệnh giá khác nhau (từ 10.000 đồng đến 500.000 đồng). (Các vật chứng này đã được trả lại cho bị cáo D; BL 39).
- - 01 xe mô tô biển kiểm soát 79V1-066.89, nhãn hiệu Sirius, màu sơn đỏ-đen, số khung RLCS640CY755697, số máy: 5C64755713 do Trần Minh D mua từ người thanh niên tên Nguyễn N, sinh năm 1978, trú tại: Tổ dân phố số I, thị trấn V, huyện V với giá 6.000.000 đồng và có làm hợp đồng mua bán viết tay. Qua quá trình điều tra xác định, đây là vật chứng của vụ án “Trộm cắp tài sản” xảy ra ngày 18/10/2023 tại thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa, người bị hại là anh Ngô Văn Q, sinh năm 1976, trú tại: Thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vụ án này đã được Cơ quan cảnh sát điều tra khởi tố vụ án theo Quyết định số 19/QĐ-ĐTHS ngày 28/01/2024; do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra quyết định chuyển vật chứng đến vụ án trên để xử lý theo quy định. (BL 36-37).
- - 17 túi ny lông màu trắng trong, có nhiều kích thước khác nhau, bên trong có chứa tổng cộng 6,8760g (sáu phẩy tám bảy sáu không gam) Methamphetamine. Sau giám định còn lại 6,5397g (sáu phẩy năm ba chín bảy gam) Methamphetamine được niêm phong vào phong bì ký hiệu A1 do Phòng K Công an tỉnh K niêm phong; 01 bình thủy tinh, có gắn 01 ống thủy tinh dài 20cm từ trên miệng bình xuống, bên hông miệng bình chỗ vòi ống có gắn 01 đoạn ống hút nhựa màu vàng dài 30cm; 01 quẹt lửa màu nâu hiệu PINGUO; 01 Zippo màu vàng, không có hiệu; 01 kéo bằng kim loại dài 15cm; 55 (năm mươi lăm) đoạn ống hút nhựa màu trắng trong, có cùng kích thước dài 20cm; 01 hộp giấy màu vàng, không nhãn hiệu, bên trong có 05 gói giấy báo, mỗi gói đều chứa 10 (mười) ống thuỷ tinh, có cùng kích thước dài 20cm.
Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/8/2024 giữa Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vạn Ninh.
Đây là các vật chứng liên quan đến việc sử dụng ma tuý của bị cáo D, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
[6] Đối với người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) đã bán ma túy cho Trần Minh D tại khu vực Lầu G thuộc thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tiếp tục điều tra xử lý sau.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên Hội đồng xét xử tách ra giải quyết bằng vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
[8] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo P là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung. Bị cáo D có tài sản riêng nên áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nộp vào Ngân sách Nhà nước.
[9] Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm g khoản 2, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Trần Minh D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", xử phạt bị cáo 07 năm tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09 tháng 11 năm 2023. Hình phạt bổ sung: Phạt tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng nộp vào Ngân sách Nhà nước. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
- Về vật chứng:
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; tuyên bố bị cáo Lê Văn P phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", xử phạt bị cáo 01 năm tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015;
Tịch thu tiêu huỷ: 17 túi ny lông màu trắng trong, có nhiều kích thước khác nhau, bên trong có chứa tổng cộng 6,8760g (sáu phẩy tám bảy sáu không gam) Methamphetamine, sau giám định còn lại 6,5397g (sáu phẩy năm ba chín bảy gam) Methamphetamine được niêm phong vào phong bì ký hiệu A1 do Phòng K Công an tỉnh K niêm phong; 01 bình thủy tinh, có gắn 01 ống thủy tinh dài 20cm từ trên miệng bình xuống, bên hông miệng bình chỗ vòi ống có gắn 01 đoạn ống hút nhựa màu vàng dài 30cm; 01 quẹt lửa màu nâu hiệu PINGUO; 01 Zippo màu vàng, không có hiệu; 01 kéo bằng kim loại dài 15cm; 55 (năm mươi lăm) đoạn ống hút nhựa màu trắng trong, có cùng kích thước dài 20cm; 01 hộp giấy màu vàng, không nhãn hiệu, bên trong có 05 gói giấy báo, mỗi gói đều chứa 10 (mười) ống thuỷ tinh, có cùng kích thước dài 20cm. (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/8/2024 giữa Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vạn Ninh).
Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Viết Lãm |
Bản án số 76/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH, TỈNH KHÁNH HÒA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 76/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: trần minh d và đp đ249
