Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ỨNG HÒA - TP HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2024/HS-ST

Ngày: 23/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thiện

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Duệ và bà Nguyễn Thị Thu Hường

- Thư ký phiên tòa: Bà Tởng Thị Lan, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Khuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 72/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024, đối với:

Bị cáo: Đặng Đình L - sinh năm 1991; Nơi ĐKHKTT: thôn N, xã P, huyện Ø, T phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn N (đã chết) và con bà Lê Thị B, sinh năm 1969 ; Vợ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1991, con: chưa có; Anh chị em ruột có 02 ngời (Bị cáo là con thứ nhất); Tiền sự: Không; Tiền án: có 02 tiền án:

  • - Ngày 10/3/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội xử phạt 27 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 02/01/2019, L chấp hành xong hình phạt trở về địa phương, chưa được xoá án tích.
  • - Ngày 04/11/2019, bị Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 18/6/2023, chấp hành xong hình phạt trở về địa phương, chưa được xoá án tích.

Nhân thân: Ngày 30/5/2014, bị Tòa án quân sự khu vực Thủ đô H xử phạt 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, đã được xoá án tích.

Bị cáo bị bắt khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an Thành phố H từ ngày 30/5/2024 đến nay - Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Võ Hoài N1, sinh năm 1993; Trú tại: thôn T, xã T, huyện Ứ, TP Hà Nội. (vắng mặt)

* Người làm chứng: Anh Nguyễn Đình V, sinh năm 1984; Trú tại: thôn V, xã T, huyện Ứ, thành phố Hà Nội. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Đặng Đình L, sinh năm: 1991, hộ khẩu thường trú thôn N, xã P và Võ Hoài N1, sinh năm: 1993, hộ khẩu thường trú thôn T, xã T, cùng huyện Ứ, thành phố Hà Nội có mối quan hệ quen biết do là bạn nghiện ma túy.

Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 30/5/2024, Võ Hoài N1 sử dụng số điện thoại 0976.401.xxx nhắn tin và gọi điện đến số điện thoại 0987.478.xxx của Đặng Đình L hỏi mua nửa chỉ ma túy Heroine và 04 - 05 viên ma túy hồng phiến (tức M), L đồng ý bán với giá 2.500.000 đồng hẹn sau khi ăn cơm xong sẽ mang ma túy giao cho N1 tại nhà N1 ở thôn T, xã T Đến khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH, màu trắng, biển kiểm soát 29T2-253.19 đến nhà N1 để giao ma túy; Đến nơi, L gọi điện thoại cho N1 ra lấy ma túy. Khi N1 vừa ra gặp L, hai bên chưa kịp giao dịch, mua bán ma túy thì bị Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế, Ma túy - Công an huyện Ứ kiểm tra. Khi thấy lực lượng Công an, Đặng Đình L liền ném 01 gói ma túy đang cầm trên tay có đặc điểm bên ngoài bọc bằng giấy bạc xuống đường. Lực lượng công an phát hiện thu giữ gói giấy bạc trên, kiểm tra bên trong phát hiện chất bột màu trắng và 04 viên nén hình tròn màu hồng. Lực lượng Công an gói lại như cũ niêm phong vào phong bì thư dán kín, lập biên bản thu giữ. Tại chỗ, N1 tự nguyện giao nộp số tiền 2.470.000đồng và trình bày là tiền để mua ma túy của L, đồng thời đưa L và N1 về Công an huyện Ứ để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 gói giấy bạc kích thước khoảng (3x2)cm bên trong có bột màu trắng và 04 viên nén hình tròn màu hồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu SH biển kiểm soát: 29T2-253.19 (thu giữ của Đặng Đình L).
  • - 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu đen bên trong có lắp sim có số thuê bao 0987478991 đã qua sử dụng và tiền Việt Nam đồng 2.470.000 đồng (thu giữ của Võ Hoài N1).

Ngày 30/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Ứ đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 916 đối với vật chứng thu giữ trên.

Tại bản kết luận giám định số 4046/KL-KTHS ngày 08/6/2024 của Phòng K - Công an Thành phố H, kết luận:

  • “- Chất bột màu trắng là ma túy loại Heroine, khối lượng 1,765gam.
  • - 04 viên nén màu hồng đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng: 0,445 gam".

Cáo trạng số: 71/CT-VKS ngày 23 tháng 7 năm 2024 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa đã truy tố bị cáo Đặng Đình L về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 của BLHS.

Tại phiên toà: Bị cáo đã thừa nhận hành vi như bản Cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên bố: bị cáo Đặng Đình L phạm tội: Mua bán trái phép chất ma tuý; xử phạt bị cáo Đặng Đình L từ 8 năm đến 9 năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (Ngày 30/5/2024);

* Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, đề nghị HĐXX tuyên:

  • - Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau giám định gửi trả lại gồm: 01 (một) phong bì niêm phong đề Công an T, Đơn vị: Công an huyện Ứ, tên đối tượng: Đặng Đình L, sinh năm: 1991, HKTT: N, P, Ứ, Hà Nội. Ngày niêm phong 30/5/2024, mặt bên của phong bì có chữ ký của đối tượng Đặng Đình L, Võ Hoài N1, giám định viên Phạm Trần N2, cán bộ Dương Nguyễn H và dấu của Cơ quan CSĐT - Công an huyện Ứ tại các mép niêm phong;
  • - Tịch thu phát mại sung vào ngân sách Nhà nước: 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, kiểu máy: 7 plus, màu đen, số IMEI: 359153070323641, đã cũ; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen, đã cũ;
  • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 2.470.000đ (hai triệu bốn trăm bẩy mươi nghìn đồng) thu của Võ Hoài N1;
  • Bị cáo phải nộp án phí theo quy định.

Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ và tài liệu, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ứ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nêu trên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng nêu trên đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội và tội danh áp dụng đối với bị cáo: Tại phiên toà bị cáo nhận tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng; vật chứng đã thu giữ được cùng các tài liệu khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ khẳng định: Ngày 30/5/2024, tại thôn T, xã T, huyện Ứ, thành phố Hà Nội, Đặng Đình L đã có hành vi bán trái phép chất ma tuý, kết quả giám định vật chứng thu giữ của L xác định là 1,765 gam ma tuý Heroine và 0,445 gam là ma túy Methamphetamine mục đích để bán kiếm lời.

Bị cáo Đặng Đình L đã 03 lần bị Toà án đưa ra xét xử về các tội: “Trộm cắp tài sản; Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Trong đó bản án ngày 04/11/2019 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội đã xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết tăng nặng “Tái phạm”, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Ngày 18/6/2023, L chấp hành xong hình phạt trở về địa phương, chưa được xoá án tích nay lại tiếp tục phạm tội. Do vậy, lần phạm tội này của bị can Đặng Đình L xác định thuộc trường hợp định khung tăng nặng: “Tái phạm nguy hiểm”, quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Do đó, hành vi trên của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo: hành vi của Bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý và sử dụng chất ma tuý của Nhà nước, làm gia tăng tệ nạn ma tuý, ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội, là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Bị cáo có nhân thân xấu, có 02 tiền án. Do đó phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc mới có tác dụng đối với bị cáo và phòng ngừa chung, cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới phản ánh đúng tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ của bị cáo:

Bị cáo Đặng Đình L có 02 tiền án :

  • - Ngày 10/3/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội xử phạt 27 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 02/01/2019, L chấp hành xong hình phạt trở về địa phương, chưa được xoá án tích.
  • - Ngày 04/11/2019, bị Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 18/6/2023, chấp hành xong hình phạt trở về địa phương, chưa được xoá án tích.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 30/5/2014, bị Tòa án quân sự khu vực Thủ đô H xử phạt 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, đã được xoá án tích.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, thật sự tỏ ra ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm ổn định, gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • * Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau giám định gửi trả lại gồm: 01 (một) phong bì niêm phong đề Công an T, Đơn vị: Công an huyện Ứ, tên đối tượng: Đặng Đình L, sinh năm: 1991, HKTT: N, P, Ứ, Hà Nội. Ngày niêm phong 30/5/2024, mặt bên của phong bì có chữ ký của đối tượng Đặng Đình L, Võ Hoài N1, giám định viên Phạm Trần N2, cán bộ Dương Nguyễn H và dấu của Cơ quan CSĐT - Công an huyện Ứ tại các mép niêm phong.
  • * Vật chứng còn lại gồm: 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, kiểu máy: 7 plus, màu đen, số IMEI: 359153070323641, đã cũ; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen, đã cũ; số tiền 2.470.000đ (hai triệu bốn trăm bẩy mươi nghìn đồng); Các bị cáo đều sử dụng các vật chứng này vào việc thực hiện hành vi phạm tội và mục đích phạm tội nên HĐXX tuyên Tịch thu phát mại sung vào ngân sách Nhà nước là phù hợp với quy định pháp luật.

(Tình trạng, đặc điểm các vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa cơ quan công an chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ứng Hoà ngày 22/8/2024).

[7] Về các vấn đề khác:

  • * Về nguồn gốc số chất ma tuý: Theo lời khai của L trình bày: số ma tuý này L nhờ một người đàn ông khoảng 40 - 50 tuổi là xe ôm ở khu vực K, quận Đ, thành phố Hà Nội mua hộ với giá 2.000.000 đồng, L không biết rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể. Việc L nhờ mua ma tuý diễn ra ở ngoài đường, không có ai khác biết, nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện Ứ không đủ căn cứ xác minh làm rõ, Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
  • * Đối với Võ Hoài N1 đã hỏi mua ma túy của Đặng Đình L với mục đích để sử dụng, nhưng Võ Hoài N1 chưa nhận được ma túy và cũng chưa thanh toán tiền nên hành vi của Võ Hoài N1 không đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Hiện Võ Hoài N1 đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 5, Sở L1 thành phố Hà Nội trong thời gian 06 tháng kể từ ngày 31/5/2024 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét xử lý là có căn cứ, Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
  • * Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH, biển kiểm soát: 29T2-253.19 thu giữ của Đặng Đình L: Theo lời khai của Đặng Đình L thì L nhận cầm cố chiếc xe mô tô trên của một người đàn ông không quen biết với số tiền 45.000.000 đồng, lãi suất thoả thuận là 2000đ/1.000.000đ/01 ngày, khi nào người đàn ông này lấy xe sẽ thanh toán tiền lãi, hai bên không lập giấy tờ gì, bản thân L không có giấy phép đăng ký kinh doanh dịch vụ cầm đồ. L không biết chiếc xe mô tô trên là tài sản trộm cắp được mà có.

Kết quả tra cứu chiếc xe máy trên “không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng”. Kết quả tra cứu phương tiện giao thông cơ giới đường bộ đối với chiếc xe mô tô có biển kiểm soát: 29T2-253.19 không có kết quả. Kết quả tra cứu phương tiện giao thông cơ giới đường bộ đối với chiếc xe mô tô có số khung: RLHJF9517LY018848, số máy: JF95E-1021889, kết quả: Chủ xe là anh Đinh Trường D, sinh năm: 1998, địa chỉ: T, G, G, Ninh Bình; biển kiểm soát: 35B2-864.75; nhãn hiệu: Honda; số loại: SH 125; Màu sơn: Trắng đen.

Ngày 10/6/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Ứ đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 983 về việc giám định số khung, số máy nguyên thủy của chiếc xe trên tại Phòng K - Công an thành phố H. Tại Bản kết luận giám định số 4542 ngày 25/6/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: “số khung, số máy trên là nguyên thủy”.

Kết quả làm việc với anh Đinh Trường D thể hiện năm 2021, anh D có mua 01 (một) chiếc xe một ô nhãn hiệu Honda SH 125, màu trắng, có số khung: RLHJF9517LY018848, số máy: JF95E-1021889 với giá 95.000.000đ. Sau đó anh D làm thủ tục đăng ký xe tại Phòng C Công an tỉnh N, chiếc xe máy trên được cấp biển kiểm soát: 35B2-864.75. Số Giấy chứng nhận 35007599, do Phòng C Công an tỉnh N cấp ngày 26/2/2021. Ngày 30/8/2023, anh D để chiếc xe mô tô trên ở tầng 1 khu phòng trọ tại địa chỉ số A, ngách A, ngõ F K, phường N, B, Hà Nội thì bị kẻ gian lấy trộm. Tuy nhiên, anh D không đến trình báo cơ quan Công an nào.

Kết quả xác minh tại Công an phường N, quận B, thành phố Hà Nội thể hiện: Công an phường N không tiếp nhận đơn trình báo nào liên quan đến việc mất trộm chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH, biển kiểm soát: 35B2-864.75, số khung: RLHJF9517LY018848, số máy: JF95E-1021889.

Tuy nhiên, xác định vụ việc trên có dấu hiệu của tội “Trộm cắp tài sản” xảy ra tại phường N, quận B, thành phố Hà Nội thuộc thẩm quyền điều tra, xác minh của Cơ quan CSĐT - Công an quận B, thành phố Hà Nội. Ngày 03/7/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Ứ đã có Văn bản và chuyển nguồn tin về tội phạm, vật chứng nêu trên đến Cơ quan CSĐT - Công an quận B đề nghị Cơ quan CSĐT - Công an quận B xác minh, điều tra về hành vi liên quan của Đặng Đình L; Đồng thời bàn giao chiếc xe mô tô trên cùng toàn bộ tài liệu liên quan đến Cơ quan CSĐT - Công an quận B để điều tra, giải quyết theo thẩm quyền là có căn cứ, Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[8] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 BLTTHS năm 2015.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. I. Tuyên bố: Bị cáo Đặng Đình L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

    Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Đặng Đình L 09 (chín) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam - ngày 30/5/2024.

  2. II. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự:
    1. Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau giám định gửi trả lại gồm: 01 (một) phong bì niêm phong đề Công an T, Đơn vị: Công an huyện Ứ, tên đối tượng: Đặng Đình L, sinh năm: 1991, HKTT: N, P, Ứ, Hà Nội. Ngày niêm phong 30/5/2024, mặt bên của phong bì có chữ ký của đối tượng Đặng Đình L, Võ Hoài N1, giám định viên Phạm Trần N2, cán bộ Dương Nguyễn H và dấu của Cơ quan CSĐT - Công an huyện Ứ tại các mép niêm phong.
    2. Tịch thu phát mại sung vào ngân sách Nhà nước: 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, kiểu máy: 7 plus, màu đen, số IMEI: 359153070323641, đã cũ; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen, đã cũ.

      Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 2.470.000đ (hai triệu bốn trăm bẩy mươi nghìn đồng) thu của Võ Hoài N1.

      (Tình trạng, đặc điểm các vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa cơ quan công an chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ứng Hoà ngày 22/8/2024).

  3. III. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Đặng Đình L phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
  4. IV. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chỉ được quyền kháng cáo những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi của mình) đều được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với bị cáo và người có mặt; kể từ ngày bản án được giao hợp lệ hoặc đượcc niêm yết tại Ủy ban nhân dân xã (phường) nơi thường trú đối với người vắng mặt ./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND huyện Ứng Hoà;
  • - Công an huyện Ứng Hòa;
  • - Chi cục THADS Ứng Hoà;
  • - UBND xã nơi bị cáo ĐKTT;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hs; V/P./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn Thiện

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 76/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Án hình sự
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger