Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 76/2024/HS-ST

Ngày: 23-04-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tường Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Lý

Bà Võ Thị Mai

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Đạt– Thư ký Tòa án nhân dân

quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ

Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trường T - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 04 năm 2024 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 49/2024/TLST-HS ngày 27/02/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐXXST-HS ngày 22/03/2024 đối với bị cáo:

Trần T1; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 30/4/1997; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: A đường B, Phường F, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện tại: Số D, đường Đ, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Con ông Trần K và bà Nguyễn Thị Thu H; Hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ, con; Nhân Thân: Ngày 10/01/2020 bị Tòa án nhân dân quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt bị cáo 01 năm tù về tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, bản án số 07/HSST; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/9/2023 (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 16 giờ 45 phút ngày 02/9/2023, Tổ tuần tra 363, Công an quận G kết hợp với Công an phường E, quận G đi tuần tra đến trước địa chỉ số A đường L, Phường E, quận G phát hiện T đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn kiểm tra phát hiện trong túi quần Jean phía trước bên phải của Trần T1 đang mặc có 01 gói giấy bạc bên trong có chứa 01 gói nylong bên trong có chứa tinh thể không màu và 02 đoạn ống hút được hàn kín 02 đầu, Trần T1 khai nhận là ma tuý. Nên tổ tuần tra đã đưa Trần T1 cùng tang vật về Công an phường E, quận G lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 (một) gói giấy bạc bên trong có chứa: 01 gói nylong được hàn kín hai đầu bên trong có chứa tinh thể không màu và 01 gói giấy bạc bên trong có chứa 02 đoạn ống hút được hàn kín hai đầu, tất cả được niêm phong thành một gói bên ngoài có chữ ký ghi tên Trần T1 và hình dấu Công an phường E, quận G.

- 01 (một) điện thoại OPPO A76 và 01 điện thoại HAAWEI thu giữ của Trần T1.

Quá trình điều tra xác định:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 02/09/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Trần T1 một mình đón xe ôm từ chợ B, Quận A đi đến đường H, Phường E, Quận G để mua ma túy sử dụng. Trên đường đi, Trần T1 không có nói với người đàn ông chạy xe ôm biết là đi mua ma túy. Đến khoảng 16 giờ 20 phút cùng ngày thì đến nơi, Trần T1 trả tiền xe ôm xong thì người đàn ông chạy xe ôm bỏ đi đâu không rõ. Trần T1 đi bộ dọc theo tuyến đường H, Phường E, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Lúc này, Trần T1 gặp một người đàn ông tên Đ đang ngồi ngoài lề đường, đội nón vải, đeo khẩu trang. Trần T1 hỏi mua ma túy với số tiền 800.000 đồng thì người đàn ông này đồng ý bán và nhận số tiền 800.000 đồng của Trần T1. Sau đó, người đàn ông này giao cho Trần T1 một gói giấy bạc bên trong có 01 gói nylong chứa tinh thể không màu là ma túy đá và có 02 đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu bên trong có chứa ma túy loại Heroine. Kiểm tra xong, Trần T1 cất giấu gói giấy bạc bên trong có chứa ma túy vào túi quần jean phía trước bên phải đang mặc đi tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 16 giờ 45 phút cùng ngày, khi Trần T1 đi bộ đến trước nhà số A đường L, Phường E, G, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị Tổ tuần tra Công an E, quận G kiểm tra phát hiện bắt giữ như đã nêu trên.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Trần T1 đã khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên.

Căn cứ kết luận giám định số 9653/KL-KTHS ngày 29/8/2023 của Phòng K1 Công an Thành phố H kết luận:

- Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m1 cần giám định đã nêu ở mục II.1 là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng 0,8476 gram loại Methamphetamine.

- Bột màu trắng được ký hiệu mẫu m2 cần giám định đã nêu ở mục II.1 là ma tuý ở thể rắn, có khối lượng 0,1577 gram loại Heroine.

Vật chứng vụ án.

- Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định được niêm phong có chữ ký của giám định viên và cán bộ điều tra còn lại sau giám định gồm: Tỉnh thể không màu có khối lượng 0,7621g; Bột màu trắng có khối lượng 0,0852g.

- 01 chiếc điện thoại hiệu OPPO A76, IMEI 1 : 869571050825330, IMEI 2 : 869571050825322 và 01 chiếc điện thoại hiệu HUAWEI , IMEI 1 : 860475042722549, IMEI 2 : 860475042747553.

Tại bản cáo trạng số 59/Ctr-VKS-GV, ngày 21/02/2024 Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố bị cáo Trần T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử, đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Xử phạt bị cáo Trần T1 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

- Tịch thu và tiêu hủy 01 gói bên ngoài có chữ ký ghi tên Trần T1 và hình dấu Công an phường E1, quận G đã được niêm phong, bên trong chứa tinh thể không màu là ma túy thể rắn có khối lượng: 0,8476 gram loại Methamphetamine và 0,1577 gram loại Heroin.

- Trả lại cho bị cái 02 chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A76 và chiếc điện thoại hiệu HUAWEI.

- Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận G, Tp ., Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Tp ., Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì bị cáo đã khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với bản kết luận điều tra của Công an quận G, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, biên bản phạm pháp quả tang và tang vật thu giữ, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Đối chiếu với các điều luật tương ứng do Bộ luật Hình sự quy định. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của bị cáo Trần T1 đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt trừng trị được quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, đã xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, đã xâm phạm và làm ảnh hưởng đến chính sách quản lý kinh tế, an ninh quốc gia, gây mất trật tự trị an xã hội và là nguồn gốc phát sinh các tội phạm khác.

[4] Mặc dù bị cáo nhận thức được việc tàng trữ, vận chuyển, sử dụng và mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm và nếu vi phạm sẽ bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng, bất chấp những quy định của pháp luật, bất chấp mọi hậu quả xảy ra kể cả việc trừng trị của pháp luật, cần thiết phải có mức hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo. Số ma túy bị cáo tàng trữ trái phép qua giám định có khối lượng: 0,8476 gram loại Methamphetamine và 0,1577 gram loại Heroin. Nên Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có cơ sở, bị cáo có nhân thân xấu, do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm tạo điều kiện cho bị cáo phấn đấu trở thành người tốt hơn sau này biết tôn trọng pháp luật đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét các tình tiết, tại Cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, chưa có tiền sự, gia đình bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

[6] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự Hội đồng xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên quyết định miễn phạt cho bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 gói đã được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Trần T1 và hình dấu Công an phường E1, quận G, bên trong chứa tinh thể không màu là ma túy thể rắn có khối lượng: 0,8476 gram loại Methamphetamine và 0,1577 gram loại Heroin, là chất Nhà nước cấm lưu hành nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 02 chiếc điện thoại di động OPPO A76 và chiếc điện thoại hiệu HUAWEI, là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo.

- Đối với đối tượng tên Đ bán ma túy cho bị cáo, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục áp dụng các biện pháp điều tra xác minh, nếu xác định được đề nghị xử lý sau.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Trần T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt bị cáo Trần T1 01(một) năm 09(chín) tháng tù.

Thời hạn tù được tính kể từ ngày 02/09/2023

Áp dụng Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

- Tịch thu và tiêu hủy 01 gói bên ngoài có chữ ký ghi tên Trần T1 và hình dấu Công an phường E1, quận G đã được niêm phong, bên trong chứa tinh thể không màu là ma túy thể rắn có khối lượng: 0,8476 gram loại Methamphetamine và 0,1577 gram loại Heroin.

- Trả lại cho bị cái 02 chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A76 và chiếc điện thoại hiệu HUAWEI.

Theo (Phiếu nhập kho vật chứng số 14/PNK ngày 26/01/2024 của Công an quận G).

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhân:

  • -TAND TPHCM;
  • -Viện kiểm sát quận Gò Vấp;
  • -Công an quận Gò Vấp;
  • -Chi cục thi hành án quận Gò Vấp;
  • -Người tham gia tố tụng;
  • -Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Tường Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 76/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger