Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2024/HS-ST

Ngày: 22-11-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Thanh
  2. Ông Nguyễn Hoàng Tiến

- Thư ký phiên tòa: Bà Cù Thị Ngọc Hân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Cù Minh Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 69/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh Tùng A, sinh năm 1985, tại Cà Mau; Nơi đăng ký thường trú: ấp X, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thanh L, sinh năm 1950 và bà Nguyễn Kim E, sinh năm 1950; Anh chị em ruột có 08 người, bị cáo là người thứ 7; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/7/2024 tại Nhà tạm giữ - Công an huyện C, tỉnh An Giang. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Thạch Ngọc D, sinh năm 1980 (đã chết)

* Đại diện hợp pháp của bị hại: Thạch S, sinh năm 1950 (có mặt)

Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Trần Văn T, sinh năm 1987 (có mặt)
  2. Địa chỉ: Khu V, phường N, thành phố N, tỉnh Hậu Giang.

  3. Thạch Hoàng L1, sinh năm 1994 (có mặt)
  4. Địa chỉ: ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng

  5. Nguyễn Tuyết H2, sinh năm 1977 (có mặt)
  6. Địa chỉ: ấp M, xã A, huyện U, tỉnh Kiên Giang.

  7. Lê Thị Thúy K, sinh năm 1986 (có mặt)
  8. Địa chỉ: khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang.

  9. Dương Đình T1, sinh năm 1990 (vắng mặt)
  10. Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương.

* Người làm chứng: Thạch Thị H (có mặt), Huỳnh Văn T2, Dương Văn H1, Nguyễn Hoài T3, Huỳnh Hoàng A1 (đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 35 phút ngày 01/5/2024, Nguyễn Thanh T4 Anh điều khiển xe mô tô biển số: 67C1 – 919.30 phía sau chở Lê Thị Thúy K và Huỳnh Hoàng A1 từ đường nhánh ra đường chính tuyến Tỉnh lộ 941. Khi xe ra khỏi lề đường bên phải hướng Tri Tôn-Lộ Tẻ, do không chú ý quan sát nên xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 83P3-984.16 do Thạch Hoàng L1 điều khiển chạy trên tuyến Tỉnh lộ 941, phía sau chở Thạch Ngọc D và Nguyễn Minh P (sinh năm 2020). Sau khi va chạm cả 06 người trên 02 xe ngã xuống đường, riêng Thạch Ngọc D ngã vào hông xe tải biển số 61H-098.35 do Trần Văn T điều khiển chạy cùng chiều, hậu quả Thạch Ngọc D bị bánh sau xe tải biển số 61H-098.35 cán qua tử vong tại chỗ.

* Vật chứng thu giữ:

  • 01 xe ô tô tải biển số 61H-098.35, nhãn hiệu HINO, màu trắng đã qua sử dụng; 01 giấy biên nhận thế chấp xe ô tô tải biển số 61H-098.35 và 01 giấy kiểm định an toàn kỹ thuật. Đã trao trả cho Dương Đình T1.
  • 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Trần Văn T. Đã trao trả cho Trần Văn T.
  • 01 xe mô tô biển số: 67C1-919.30, hiệu Honda, loại Vario 125, màu trắng-đen, số khung MH1JMD119NK049307, số máy JMD1E1049524 đã qua sử dụng và 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số 000377 mang tên Lê Thị Thúy K.
  • 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Thanh Tùng A.
  • 01 xe mô tô biển số 83P3-984.16, hiệu Honda, loại Winner, màu xanh-đen, số khung 2602JY004007, số máy KC26E1249683 đã qua sử dụng và 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số số 247339 mang tên Thạch Hoàng L1.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng được trải nhựa, chiều rộng mặt đường là 7m20, ở giữa có vạch kẽ đường không liền nét, chia hai làn đường bằng nhau, hiện trường cách về hướng Tri Tôn 7m70 là đường nhánh vào chợ V.

- Hiện trường được đánh số thứ tự:

  1. Vết cày không liên tục
  2. Xe mô tô biển số 67C1-919.30
  3. Xe mô tô biển số 83P3-984.16
  4. Nạn nhân Thạch Ngọc D
  5. Xe ô tô tải biển số 61H-098.35

- Chọn trụ điện số 48/AC/323 nằm ngoài lề đường bên phải hướng Tri Tôn - L làm điểm mốc cố định, lấy mép đường bên phải hướng T - Lộ Tẻ làm chuẩn cho việc đo vẽ sơ đồ và khám nghiệm hiện trường.

- Quá trình khám nghiệm được mô tả theo số thứ tự như sau:

  1. Vết cày không liên tục nằm phần đường bên phải hướng T - Lộ Tẻ dài 11m25, điểm xuất phát cách vào lề chuẩn là 1m10 và điểm kết thúc ngay tại gát chân trước bên trái xe mô tô biển số 83P3-948.16.
  2. Xe mô tô 67C1-919.30 nằm phần đường bên phải hướng T - Lộ Tẻ ở tư thế ngả nghiên sang trái đầu xe hướng L, đuôi xe hướng Tri Tôn, trục sau cách vào lề chuẩn là 1m60 và cách đến giao lộ đường vào chợ V là 7m70, trục trước cách vào lề chuẩn là 0m90 và cách đến trục trước xe mô tô biển số 83P3-984.16 là 1m00.
  3. Xe mô tô biển số 83P3-984.16 nằm phần đường bên phải hướng T-Lộ Tẻ ở tư thế ngã nghiên sang trái, đầu xe hướng vào lề phải, đuôi xe hướng tim đường, trục trước cách vào lề chuẩn là 1m65, trục sau cách vào lề chuẩn là 2m80 và cách đến đỉnh đầu nạn nhân Thạch Ngọc D là 2m40.
  4. Nạn nhân Thạch Ngọc D nằm vị trí tim đường, ở tư thế nằm sắp mặt xuống đường, đầu hướng Tri Tôn, chân hướng Lộ Tẻ, đỉnh đầu nậ nhân cách vào lề chuẩn là 4m00 và cách trục sau xe ô tô biển số 61H-098.35 là 33m80
  5. Xe ô tô tải biển số 61H-098.35 nằm phần đường bên phải hướng T - L, đầu xe hướng Lộ Tẻ, đuôi xe hướng T, trục trước bên phải cách vào lề chuẩn là 0m35, trục sau bên phải cách vào lề chuẩn là 0m25 và cách trục sau xe mô tô 83P3-984.16 là 38m50.

* Căn cứ Bản kết luận giám định tử thi số 594/KL-KTHS ngày 02/5/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh A, kết luận: nạn nhân Thạch Ngọc D, sinh năm 1980; nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

  1. Các kết quả chính qua giám định:
    • Sây sát da, bầm máu rải rác vùng ngực, bụng, lưng, mông.
    • Vết thương phức tạp, rách da – cơ vùng bẹn và đùi trái.
    • Bầm tụ máu dưới da, cơ vùng bụng
    • Ô bụng nhiều máu lỏng, khoảng 1.000ml
    • Dập vỡ phức tạp gan, lách
    • Dập vỡ dạ dày, bàng quang, trực tràng
    • Gãy trật cột sống thắt lưng, khung xương chậu
  2. Nguyên nhân chết:
  3. Sốc đa chấn thương, mất máu cấp.

* Căn cứ Kết luận giám định số 1015/KL-KTHS ngày 16/8/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh A. Kết luận:

Trích xuất 13 ảnh từ dữ liệu 01 tập tin video lưu trữ trong đĩa DVD (ký hiệu A) do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C, tỉnh An Giang gửi giám định, chi tiết thể hiện trong phụ lục kèm theo.

Kèm theo kết luận giám định: 01 (một) Phụ lục gồm 06 trang A4

Ngày 27/6/2024 Nguyễn Thanh T4 Anh bị khởi tố, điều tra.

Tại Bản cáo trạng số: 68/CT-VKSCT ngày 24/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh Tùng A về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.

Đại diện hợp pháp của bị hại Thạch S trình bày: Sung là cha ruột của Thạch Ngọc D, được gia đình ủy quyền làm người đại diện hợp pháp cho bị hại. Sung đã nhận từ bị cáo Tùng A số tiền bồi thường tổng cộng là 45.000.000 đồng, nhận hỗ trợ từ Trần Văn T số tiền 100.000.000 đồng, nhận hỗ trợ từ Thạch Hoàng L1 số tiền 100.000.000 đồng. Sung đã làm đơn bãi nại, không yêu cầu xử lý đối với T, L1 và Tùng A, không yêu cầu bồi thường thêm trách nhiệm dân sự.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Văn T, Thạch Hoàng L1, Dương Đình T1 trình bày phù hợp với nội dung vụ án đã nêu.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thị Thúy K trình bày phù hợp với nội dung vụ án đã nêu, khi giao xe mô tô biển số 67C!-919.30 cho Tùng A điều khiển K biết rõ Tùng A có giấy phép lái xe hạng A1. Kiều xin được nhận lại xe mô tô biển số 67C!-919.30.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Tuyết H2 trình bày H2 là chị ruột của bị cáo Tùng A, H2 thay mặt Tùng A bồi thường cho Thạch S số tiền 40.000.000 đồng, H2 yêu cầu sau khi chấp hành án xong Tùng A có nghĩa vụ trả lại số tiền này cho H2.

Những người làm chứng Huỳnh Văn T2, Thạch Thị H, Dương Văn H1, Nguyễn Hoài T3, Huỳnh Hoàng A1 trình bày phù hợp với nội dung vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành thực hành quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa phát biểu lời luận tội đối với bị cáo và giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết giảm nhẹ hình phạt, nhân thân bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T4 Anh mức án 01 năm đến 02 năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;

Về trách nhiệm dân sự: đại diện hợp pháp của bị hại Thạch S không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đề cập xem xét;.

Về xử lý vật chứng, Vật chứng của vụ án gồm:

  • 01 xe mô tô biển số: 67C1-919.30, hiệu Honda, loại Vario 125, màu trắng - đen, số khung MH1JMD119NK049307, số máy JMD1E1049524 đã qua sử dụng và 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số 000377 mang tên Lê Thị Thúy K. Đề nghị trả lại cho Lê Thị Thúy K
  • 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Thanh Tùng A. Đề nghị trả lại cho bị cáo Tùng A.
  • 01 xe mô tô biển số 83P3-984.16, hiệu Honda, loại Winner, màu xanh - đen, số khung 2602JY004007, số máy KC26E1249683 đã qua sử dụng và 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số số 247339 mang tên Thạch Hoàng L1. đề nghị trả lại cho Thạch Hoàng L1.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng, tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Dương Đình T1; người làm chứng Huỳnh Văn T2, Dương Văn H1, Nguyễn Hoài T3, Huỳnh Hoàng A1 được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai và làm rõ các tình tiết vụ án nên việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không làm ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung vụ án:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Thanh Tùng A khai nhận do không chú ý quan sát khi điều khiển xe mô tô biển số 67C1-919.30 chở Lê Thị Thúy K và Huỳnh Hoàng A1 chạy từ đường nhánh ra Tỉnh lộ 941, không nhường đường cho các phương tiện đang lưu thông trên Tỉnh lộ 941 dẫn đến va chạm làm Thạch Ngọc D bị xe ô tô tải cán ngang tử vong tại chỗ. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tình tiết, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng. Như vậy đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Thanh T4 Anh phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia

giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo có giấy phép lái xe hạng A1 nên có kiến thức về pháp luật giao thông đường bộ nhưng lại chủ quan thiếu quan sát khi đến giao lộ không đồng cấp, không nhường đường cho phương tiện đang lưu thông trên đường chính, gây thiệt hại đến tính mạng của người tham gia giao thông khác, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương, xâm phạm an toàn giao thông đường bộ nên cần có hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo và cũng để phòng ngừa chung trong xã hội.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo thuộc thành phần nhân dân lao động nghèo, trình độ học vấn thấp, nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 45.000.000 đồng, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại Thạch S không có yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Công nhận sự thỏa thuận của bị cáo Nguyễn Thanh T4 Anh trả lại cho Nguyễn Thị Tuyết H2 số tiền 40.000.000 đồng.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • Quá trình điều tra xe ô tô tải biển số 61H-098.35, nhãn hiệu HINO, màu trắng đã qua sử dụng; 01 giấy biên nhận thế chấp xe ô tô tải biển số 61H-098.35 và 01 giấy kiểm định an toàn kỹ thuật đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C, tỉnh An Giang trao trả cho Dương Đình T1; 01 giấy phép lái xe hạng C tên Trần Văn T, đã trao trả cho Trần Văn T, việc trao trả là đúng quy định pháp luật, Trần Văn T và Dương Đình T1 không có yêu cầu gì khác nên hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
  • Đối với xe mô tô biển số: 67C1-919.30, hiệu Honda, loại Vario 125, màu trắng - đen, số khung MH1JMD119NK049307, số máy JMD1E1049524 đã qua sử dụng và 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số 000377 mang tên Lê Thị Thúy K, đây là tài sản của Lê Thị Thúy K giao cho bị cáo hợp pháp, K không có lỗi trong việc giao xe cho bị cáo và có yêu cầu nhận lại, Hội đồng xét xử quyết định trao trả cho Lê Thị Thúy K là phù hợp.
  • Đối với giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Thanh Tùng A. Do bị cáo không bị áp dụng hình phạt bổ sung nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo.
  • Đối với xe mô tô biển số 83P3-984.16, hiệu Honda, loại Winner, màu xanh - đen, số khung 2602JY004007, số máy KC26E1249683 đã qua sử dụng và 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số số 247339 mang tên Thạch Hoàng L1. Đây không phải công cụ, phương tiện phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho Thạch Hoàng L1.

[7] Bị cáo Nguyễn Thanh Tùng A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
    • Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T4 Anh phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T4 Anh 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam (Ngày 03/7/2024).
  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
    • Trả lại cho Lê Thị Thúy K 01 xe mô tô biển số: 67C1-919.30, hiệu Honda, loại Vario 125, màu trắng - đen, số khung MH1JMD119NK049307, số máy JMD1E1049524 đã qua sử dụng và 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số 000377 mang tên Lê Thị Thúy K.
    • Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh T4 Anh 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Thanh Tùng A.
    • Trả lại cho Thạch Hoàng L1 01 xe mô tô biển số 83P3-984.16, hiệu Honda, loại Winner, màu xanh - đen, số khung 2602JY004007, số máy KC26E1249683 đã qua sử dụng và 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số số 247339 mang tên Thạch Hoàng L1.

    (Các vật chứng được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang theo quyết định chuyển vật chứng số 55/QĐ-VKSCT-HS ngày 24/10/2024 của viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang).

  3. Về trách nhiệm dân sự: công nhận sự thỏa thuận của bị cáo Nguyễn Thanh T4 Anh trả lại cho Nguyễn Thị Tuyết H2 số tiền 40.000.000 đồng.
  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  5. Buộc bị cáo Nguyễn Thanh Tùng A phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo : Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (22/11/2024). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản bán được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • Bị cáo;
  • Đại diện hợp pháp của bị hại
  • Người có QLNVLQ;
  • Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành;
  • Phòng KTNV-THA – TAND tỉnh An Giang;
  • CQ CSĐT Công an huyện Châu Thành;
  • Chi cục THA.DS huyện Châu Thành;
  • Lưu hồ sơ vụ án;
  • Lưu VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Hữu Phúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 76/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử phạt bị cáo 01 năm 03 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger