Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN BIÊN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2024/HS-ST

Ngày: 22-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Hồng Thúy Liễu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phan Văn Thà.
  2. Bà Nguyễn Thị Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Công Hậu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Hào – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2024, tại trường Trung học phổ thông T4, địa chỉ: số H, đường C, khu phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 53/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 71/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Anh N, sinh ngày 01/11/1998, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú: khu phố F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc Ầ (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; vợ: Lê Thị Thu H, con: có 01 người; tiền án: không có; tiền sự: không có; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/01/2024, chuyển sang tạm giam từ ngày 31/01/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Lê Văn H1, sinh ngày 20/3/1984, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Đ và bà Hà Thị T1; vợ: Lê Thị Kim X (đã ly hôn), con: có 02 người; tiền án: không có; tiền sự: không có; nhân thân: ngày 28/6/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, ngày 19/02/2019 chấp hành xong (đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính); bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/01/2024, chuyển sang tạm giam từ ngày 31/01/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Nguyễn Văn T2, sinh ngày 22/5/1990, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nơi ở hiện tại: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Ngô Thị Q; vợ, con: chưa có; tiền án: không có; tiền sự: không có; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/01/2024, chuyển sang tạm giam từ ngày 31/01/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hành vi của bị cáo Nguyễn Anh N:

Bị cáo N là người sử dụng trái phép chất ma túy. Để có ma túy, bị cáo N đã 02 lần đi mua ma túy của người tên K (không rõ họ tên, địa chỉ) tại khu vực ngã tư xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh, cụ thể:

  • Lần 1 vào khoảng giữa tháng 01/2024, bị cáo N mua ma túy của người tên K với số tiền 500.000 đồng;
  • Lần 2 vào ngày 19/01/2024, bị cáo N mua ma túy của người tên K với số tiền 1.000.000 đồng.

Sau khi mua ma túy, bị cáo N mang về nơi ở của mình tại khu phố F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh phân ma túy nhỏ ra thành nhiều bịch và cất giấu để sử dụng và bán kiếm lời.

Quá trình điều tra, xác định bị cáo N đã 05 lần bán trái phép chất ma túy cho 05 người, trong đó có 02 lần bán cùng lúc cho 02 người, cụ thể như sau:

  • Lần 1: Vào ngày 16/01/2024, bị cáo N bán ma túy cho Võ Đỗ P, sinh năm 1996, nơi cư trú khu phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh với số tiền 200.000 đồng trên đường thuộc khu vực nhà nghỉ T5, thuộc khu phố F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
  • Lần 2: Vào ngày 16/01/2024, bị cáo N bán ma túy cho Nguyễn Thành V, sinh năm 1987, nơi cư trú khu phố F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh với số tiền 200.000 đồng thuộc khu vực gần nhà nghỉ T, thuộc khu phố F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
  • Lần 3: Vào ngày 21/01/2024, bị cáo N bán ma túy cho Lê Thành T3, sinh năm 1980, nơi cư trú ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh với số tiền 200.000 đồng thuộc khu vực gần nhà nghỉ T, thuộc khu phố F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
  • Lần 4: Vào ngày 21/01/2024, bị cáo N bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Văn T2 và bị cáo Lê Văn H1 (là các bị can trong vụ án) với số tiền 200.000 đồng tại nhà bị can N thuộc khu phố F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
  • Lần 5: Vào ngày 22/01/2024, bị cáo N bán ma túy cho bị cáo T2 và bị cáo H1 với số tiền 300.000 đồng tại nhà của bị cáo T2 thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.

Hành vi của các bị cáo Lê Văn H1 và Nguyễn Văn T2:

Bị cáo T2 và bị cáo H1 là người sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 19 giờ ngày 21/01/2024, bị cáo H1 điện thoại rủ bị cáo T2 cầm cố 01 máy cưa cầm tay của bị cáo H1 để lấy tiền mua ma túy sử dụng thì bị cáo T2 đồng ý và hẹn gặp nhau tại nhà của bị cáo T2. Sau đó, bị cáo H1 chở bị cáo T2 đến nhà bị cáo Nguyễn Anh N để cầm cố máy cưa đổi lấy tiền và ma túy sử dụng. Khi gặp thì bị cáo N không đồng ý cầm cố máy cưa nên bị cáo T2 đến nhà bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1978, nơi cư trú khu phố F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (là mẹ ruột bị cáo N) mượn bà T số tiền 500.000 đồng. Bị cáo T2 gửi lại máy cưa cho bà T cất giữ để làm tin. Sau khi có tiền, bị cáo T2 và bị cáo H1 cùng nhau đến gặp bị cáo N, mua 01 bịch ma túy với số tiền 200.000 đồng. Bị cáo T2 giao 01 bịch ma túy vừa mua và 300.000 đồng lại cho bị cáo H1 cất giấu, cả hai đi về nhà của bị cáo T2. Khi về đến nhà, bị cáo T2 dẫn bị cáo H1 vào phòng ngủ của mình, sau đó lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy ra và bị cáo H1 đưa bịch ma túy cho bị cáo T2 đổ ma túy vào bộ dụng cụ sử dụng. Bị cáo T2 và bị cáo H1 cùng nhau đốt nấu, sử dụng ma túy. Sau đó, bị cáo H1 đi về nhà.

Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, bị cáo H1 tiếp tục đến nhà bị cáo T2, rủ bị cáo T2 bán 01 con gà trống, màu trắng, nặng khoảng hơn 02 kg của bị cáo H1 để lấy tiền mua ma túy sử dụng thì bị cáo T2 đồng ý và điện thoại cho bị cáo N để mua ma túy với số tiền 300.000 đồng, đổi bằng con gà trống của bị cáo H1 trị giá 500.000 đồng thì bị cáo N đồng ý và hẹn bị cáo T2 ở nhà chờ để bị cáo N mang ma túy đến. Sau đó, bị cáo H1 về nhà bắt gà mang đến nhà bị cáo T2. Đến khoảng hơn 01 giờ 00 phút, ngày 22/01/2024, N mang bịch ma túy đến nhà gặp bị cáo T2 và bị cáo H1. Tại đây bị cáo N lấy con gà trị giá 500.000 đồng và giao 01 bịch ma túy trị giá 300.000 đồng cho bị cáo T2 với số tiền 200.000 đồng, số tiền còn lại bị cáo N chuyển khoản cho bị cáo Thanh nạp vào tài khoản game. Khi đó, bị cáo T2 cầm bịch ma túy rủ bị cáo H1 và bị cáo N đi vào phòng ngủ của mình để sử dụng ma túy. Bị cáo T2 lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy của mình, đổ một phần ma túy vào bộ dụng cụ sử dụng, một phần ma túy còn lại trong bịch cất giấu trong tủ để trong phòng ngủ. Bị cáo T2 cùng bị cáo H1 và bị cáo N thay nhau đốt nấu ma túy, sử dụng ma túy liên tục, tại phòng ngủ của bị cáo T2. Bị cáo N sử dụng ma túy xong thì lấy con gà trống đi về trước, bị cáo T2 và bị cáo H1 tiếp tục sử dụng số ma túy trong bộ dụng cụ sử dụng. Sau khi sử dụng ma túy xong, bị cáo H1 ở tại nhà bị cáo T2 thì bị Công an xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh phát hiện và thu giữ vật chứng.

Tại Bản kết luận giám định số: 173/KL-KTHS ngày 29/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận:

  • Mẫu tinh thể rắn màu trắng (kí hiệu A2) bên trong 01 bịch nylon bóp miệng có viền màu đỏ và 01 bịch nylon bóp miệng có viền màu xanh gửi đến giám định là chất ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng 0,0251 gam;
  • Dụng cụ sử dụng ma túy được niêm phong trong bì thư (kí hiệu A3) gửi đến giám định có tìm thấy chất ma túy; Loại Methamphetamine; Không xác định được khối lượng vì mẫu dạng vi vết;
  • Dụng cụ sử dụng ma túy được niêm phong trong bì thư (kí hiệu M1) gửi đến giám định có tìm thấy chất ma túy; Loại Methamphetamine; Không xác định được khối lượng vì mẫu dạng vi vết;
  • Mẫu tinh thể rắn màu trắng (kí hiệu M2) bên trong 01 bịch nylon bóp miệng trong suốt có sọc màu xanh gửi đến giám định là chất ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng 0,0775 gam.

Tại Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Công an xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh ngày 22/01/2024 đối với các bị cáo Nguyễn Anh N, Lê Văn H1 và Nguyễn Văn T2 thể hiện tất cả điều dương tính với ma túy.

Tại Cáo trạng số: 51/CT-VKSTB ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Anh N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Lê Văn H1, Nguyễn Văn T2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh trong phần tranh luận đã giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Anh N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và các bị cáo Lê Văn H1, Nguyễn Văn T2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh N mức án từ 08 năm đến 09 năm tù.
  • Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Văn H1 mức án từ 07 năm đến 08 năm tù.
  • Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T2 mức án từ 07 năm đến 08 năm tù.
  • Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
  • Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của các bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo N không nói lời nói sau cùng. Các bị cáo H1 và T2 nhận biết hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật và hai bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về đoàn tụ gia đình, làm người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về hành vi của các bị cáo:

    Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo N, H1, T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản khám xét, biên bản nhận dạng, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng, vật chứng vụ án cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định:

    Trong khoảng thời gian từ ngày 16/01/2024 đến ngày 22/01/2024, bị cáo N mua ma túy loại Methamphetamine mang về nhà cất giấu và phân chia để bán lại cho nhiều người, gồm: bán cho Võ Đỗ P 01 bịch với số tiền 200.000 đồng, bán cho Nguyễn Thành V 01 bịch số tiền 200.000 đồng, bán cho Lê Thành T3 01 bịch với số tiền 200.000 đồng và bán 02 lần cùng lúc cho 02 người (mỗi lần 01 bịch) là bị cáo T2 và bị cáo H1 với số tiền 200.000 đồng và số tiền 300.000 đồng.

    Trong các ngày 21 và 22/01/2024, tại nơi ở của mình ngụ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, bị cáo T2 cùng với bị cáo H1 tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tổng cộng 03 lần, cụ thể:

    • Lần 1: Các bị cáo T2 và H1 tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với nhau.
    • Lần 2: Các bị cáo T2 và H1 tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cùng bị cáo N.
    • Lần 3: Các bị cáo T2 và H1 tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với nhau.

    Tổng số ma túy thu giữ là 0,1026 gam, loại Methamphetamine.

    Hành vi của bị cáo N đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo H1 và bị cáo T2 đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên truy tố bị cáo N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự: “Phạm tội 02 lần trở lên”, “Đối với 02 người trở lên” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo H1 và bị cáo T2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự: “Phạm tội 02 lần trở lên”, “Đối với 02 người trở lên” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

  3. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng:
    1. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình chính trị tại địa phương. Ma túy là hiểm họa của con người, cộng đồng và xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Các bị cáo ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện thể hiện thái độ xem thường pháp luật của các bị cáo. Vì vậy, cần phải có một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
    2. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, các bị cáo tự nguyện khai báo về hành vi phạm tội trước đó và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên tất cả các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo N có ông ngoại (ông Nguyễn Văn X1) là người có công với cách mạng, được tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba và bản thân bị cáo là quân nhân xuất ngũ nên bị cáo N được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
    3. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
    4. Về vai trò của từng bị cáo:

      Bị cáo N phải chịu trách nhiệm hình sự cao nhất trong vụ án tương ứng với hành vi phạm tội của mình.

      Bị cáo H1 là người chủ động liên lạc, rủ rê bị cáo T2, dùng tài sản của mình để bán, cầm cố lấy tiền mua ma túy; bị cáo T2 là người cung cấp địa điểm, dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy, chủ động rủ rê bị cáo N sử dụng ma túy; bị cáo H1 và bị cáo T2 cùng đi mua ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy 03 lần nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự ngang nhau tương ứng với hành vi phạm tội của mình.

  4. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, các bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
  5. Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy các vật chứng trong vụ án là ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy, tài sản không còn giá trị sử dụng. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 02 điện thoại di động do các bị cáo sử dụng liên lạc mua bán trái phép chất chất ma túy. Trả lại cho bị cáo H1 01 cái máy cưa không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
  6. Đối với người tên “Khánh” bán ma túy cho bị cáo N, hiện chưa xác định được, khi nào làm rõ xử lý sau.
  7. Đối với Nguyễn Thành V là người mua ma túy của bị cáo N, hiện không có mặt tại địa phương, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T chuyển thông tin đến Công an thị trấn T, huyện T để xử lý theo quy định pháp luật là có căn cứ.
  8. Đối với bà Nguyễn Thị T cho bị cáo T2 và bị cáo H1 mượn tiền, chỉ giữ máy cưa để làm tin, bà T không biết việc hai bị cáo mượn tiền để mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không xử lý là có căn cứ.
  9. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, các bị cáo Lê Văn H1 và Nguyễn Văn T2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
    1. Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

      Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh N 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 22/01/2024.

    2. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

      Xử phạt bị cáo Lê Văn H1 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 22/01/2024.

      Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T2 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 22/01/2024.

  2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    - Tịch thu tiêu hủy:

    • 01 (một) bì thư niêm phong ghi vụ số: 173, bên trong 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy (kí hiệu M1) có chứa chất ma túy loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng do mẫu ở dạng vi vết, có chữ ký của Giám định viên, Trợ lý giám định và dấu niêm phong của Phòng K1, Công an tỉnh T;
    • 01 (một) bì thư niêm phong ghi vụ số: 173, bên trong 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy (kí hiệu A3) có chứa chất ma túy loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng do mẫu ở dạng vi vết, có chữ ký của Giám định viên, Trợ lý giám định và dấu niêm phong của Phòng K1, Công an tỉnh T;
    • 01 (một) sim số 0936299190;
    • 01 (một) cân tiểu ly màu đen;
    • 01 (một) kéo kim loại màu bạc.

    - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:

    • 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số Imeil: 351288854124852, gắn sim số 0332621489 và số 0348805173 đã qua sử dụng.
    • 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, màu đen, bị bể màn hình góc trên bên trái và góc dưới bên phải, số Imeil: 863827057005490, gắn sim số 0387605752 đã qua sử dụng.

    - Trả lại cho bị cáo H1: 01 (một) máy cưa màu cam, không có gắn lưỡi cưa, trên thân máy có ghi nhãn hiệu KANTA088, đã qua sử dụng.

  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Nguyễn Anh N, Lê Văn H1, Nguyễn Văn T2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
  4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Nguyễn Anh N, Lê Văn H1, Nguyễn Văn T2 được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Phạm Hồng Thúy L

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/HS-ST ngày 22/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH về mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 76/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Vụ án Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Anh Nhựt CĐP bị truy tố về tội Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger