Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ VĨNH CHÂU

TỈNH SÓC TRĂNG

***

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

***

Bản án số: 76/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 21/8/2023

“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Lâm Minh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Bà Phạm Thị Hương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Hưng, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu tham gia phiên Tòa: Bà Phạm Thị Diệp – Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 139/2023/TLST-HNGĐ, ngày 07 tháng 6 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H; sinh năm: 1984 (vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Số A ấp D, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Ông Trần Hoàng K; sinh năm: 1982 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khóm H, phường K, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 28/5/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H trình bày:

Vào năm 2003, bà Nguyễn Thị Thu H kết hôn với ông Trần Hoàng K và được Ủy ban nhân dân phường K cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 30/9/2015. Sau ngày cưới bà H về sống chung tại nhà cha mẹ chồng ở khóm H, phường K, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc và có 02 con chung là Trần An K1 (giới tính: Nam); sinh ngày 18/7/2004 và Trần Hoàng Q (giới tính: Nam); sinh ngày 09/7/2017. Về sau phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, ông K có hành vi bạo lực gia đình nên bà H không còn sống chung với ông K từ năm 2021 cho đến nay.

Nay bà Nguyễn Thị Thu H yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu H yêu cầu được ly hôn với ông Trần Hoàng K.
  • - Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thu H yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Trần Hoàng Q (giới tính: Nam); sinh ngày 09/7/2017, không yêu cầu ông Trần Hoàng K cấp dưỡng nuôi con. Đối với Trần An K1 (giới tính: Nam); sinh ngày 18/7/2004 đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về tài sản chung: Tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về nợ chung: Tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Trần Hoàng K: Dù được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, tại Thông báo thể hiện đầy đủ những tình tiết, sự kiện, tài liệu, yêu cầu khởi kiện của bà H nhưng ông K không phản đối, không có văn bản trình bày ý kiến và nguyện vọng của mình. Tòa án đã thông báo toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cho ông K và đưa vụ án ra xét xử. Phiên tòa ngày 04/8/2023, bị đơn ông K vẫn vắng mặt và không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa, tiếp tục đưa vụ án ra xét xử theo luật định.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa nêu quan điểm: Qua thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn. Đối với bị đơn ông Trần Hoàng K, trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa mặc dù Tòa án

đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng ông K vẫn vắng mặt không có lý do nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn theo quy định của pháp luật. Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử cho bà Nguyễn Thị Thu H được ly hôn với ông Trần Hoàng K, giao cho bà Nguyễn Thị Thu H được nuôi dưỡng con chung là cháu Trần Hoàng Q (giới tính: Nam), sinh ngày 09/7/2017 cho đến khi cháu Q đủ 18 tuổi, ông K không phải cấp dưỡng cho cháu Q; đối với con chung tên Trần An K1 (giới tính: Nam); sinh ngày 18/7/2004 đã thành niên, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu nên không đặt ra xem xét; nguyên đơn bà H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

[1] Bà Nguyễn Thị Thu H khởi kiện về việc ly hôn, nuôi con chung. Yêu cầu của bà H được pháp luật điều chỉnh tại các Điều 51, Điều 56 và Điều 58 của Luật hôn nhân và gia đình. Đồng thời, bị đơn ông Trần Hoàng K có địa chỉ cư trú tại khóm H, phường K, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Trần Hoàng K đã được triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên tòa, đều vắng mặt không có lý do. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về nội dung giải quyết:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn của bà Nguyễn Thị Thu H và ông Trần Hoàng K; bản chứng thực căn cước công dân của bà Nguyễn Thị Thu H; bản Trích lục khai sinh của cháu Trần Hoàng Q; bản sao khai sinh của Trần An K1, đối chiếu với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử khẳng định lời trình bày của bà Nguyễn Thị Thu H về việc kết hôn với ông Trần Hoàng K được Ủy ban nhân dân phường K cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 30/9/2015 là sự thật. Vì vậy, giữa bà H và ông K đang tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp, quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, do vợ chồng bất đồng quan điểm, không hợp tính tình làm cho cuộc sống

chung không hạnh phúc, hiện nay bà H và ông K không còn chung sống với nhau nữa; mạnh ai nấy sống, người nào chỉ biết bổn phận của người đó, không cùng nhau thực hiện các công việc gia đình; không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không cùng nhau nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Q. Như vậy, bà H và ông K đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình; vợ chồng không còn yêu thương, tôn trọng lẫn nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần áp dụng các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình, giải quyết cho bà Nguyễn Thị Thu H được ly hôn với ông Trần Hoàng K.

[4] Đối với quyền nuôi con chung: Cháu Trần Hoàng Q còn nhỏ nên rất cần sự quan tâm, chăm lo của người mẹ và bà Nguyễn Thị Thu H xin được nuôi dưỡng cháu Trần Hoàng Q nhưng ông Trần Hoàng K không phản đối nên căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, giao cho bà Nguyễn Thị Thu H được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Hoàng Q. đồng thời, ghi nhận ý chí tự nguyện của bà H về việc không yêu cầu ông K cấp dưỡng cho con. Đối với con chung là Trần An K1 (giới tính: Nam); sinh ngày 18/7/2004 đã thành niên không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu là 300.000 đồng theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[7] Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có căn cứ pháp lý và cơ sở thực tiễn như đã nhận định ở trên, Hội đồng xét xử cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đã nêu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 và khoản 2 Điều 143, khoản 1 Điều 144, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82,

Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.

Tuyên xử:

  1. 1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị Thu H được ly hôn với ông Trần Hoàng K.
  2. 2. Về quyền nuôi con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị Thu H được nuôi dưỡng cháu Trần Hoàng Q (giới tính: Nam); sinh ngày 09/7/2017 đến đủ 18 tuổi. Ghi nhận ý chí tự nguyện của bà Nguyễn Thị Thu H về việc không yêu cầu ông Trần Hoàng K cấp dưỡng cho cháu Trần Hoàng Q. Đối với con chung là Trần An K1 (giới tính: Nam); sinh ngày 18/7/2004 đã thành niên, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Trong thời gian bà Nguyễn Thị Thu H nuôi dưỡng con chung, không ai được quyền ngăn cản sự thăm nom, chăm sóc, giáo dục của cha mẹ đối với con chung.

Vì quyền lợi về mọi mặt của cháu Trần Hoàng Q, bà Nguyễn Thị Thu H có thể yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi nghĩa vụ và mức cấp dưỡng cho con; ông Trần Hoàng K có thể yêu cầu giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Các đương sự thực hiện quyền này theo quy định pháp luật.

  1. 4. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
  2. 5. Về án phí:
    • - Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0008025 ngày 07/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, bà Nguyễn Thị Thu H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.

Nơi nhận:

  • - VKSND thị xã Vĩnh Châu;
  • - Chi cục THADS thị xã Vĩnh Châu;
  • - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh ST;
  • - UBND phường Khánh Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2023/HNGĐ-ST ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 76/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Nguyễn Thị Thu H; bị đơn: Trần Hoàng Kh (ly hôn, tranh chấp về nuôi con)
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger