Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN L

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2023/HNGĐ-ST

Ngày 21-8-2023

V/v ly hôn, nuôi con chung giữa

chị Th, anh L

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Văn Doanh;

Bà Vũ Thị Mai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ca - Thư ký Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 60/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 02 năm 2023 về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2023/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2023/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1989 (vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn M, xã S, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Bị đơn: Anh Vi Văn L, sinh năm 1986 “vắng mặt”.

Địa chỉ: Thôn Lim, xã S, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 08/02/2023 và những lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Vi Văn L kết hôn từ năm 2016, tự nguyện kết hôn không bị ai ép buộc. Có đăng ký kết hôn tại UBND xã S, huyện L và được hai bên gia đình cưới hỏi theo phong tục địa phương. Sau ngày cưới vợ chồng về chung sống cùng nhau ngay tại thôn Lim, xã S, huyện L, Bắc Giang. Trong quá trình chung sống, thời gian không lâu vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, anh L chơi bời không chịu tu chí làm ăn, chị đã khuyên bảo nhiều lần nhưng không thay đổi. Từ tháng 01/2023 cho đến nay, chị và anh L sống ly thân nhau. Nay, chị xác định không còn tình cảm gì với anh L đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh L.

Về con chung: Chị và anh L có hai con chung là Vi Nhật K, sinh ngày 17/6/2017 và cháu Vi Anh Q, sinh ngày 25/10/2022. Hiện nay các con đang ở với chị. Sau khi ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao cả hai con chung cho chị nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, chị không yêu cầu anh L và cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Bị đơn anh Vi Văn L: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh L nhưng anh L không gửi quan điểm trình bày đến Tòa án cũng như không đến làm việc.

Tòa án đã có công văn tra cứu xuất nhập cảnh, Tại Công văn số 16088/QLXNC-P5 ngày 27/6/2023 của Cục quản lý xất nhập cảnh cung cấp thông tin anh L không có thông tin xuất cảnh.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên toà, Thẩm phán, Thư ký Toà án thực hiện theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên toà Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; đương sự, nguyên đơn chấp hành quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 9, Điều 51, Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Q Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Th: Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thi Th và anh Vi Văn L. Về nuôi con chung: Giao chi Th trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vi Nhật K, sinh ngày 17/6/2017 và cháu Vi Anh Q, sinh ngày 25/10/2022. Ngoài ra còn đề xuất về án phí, quyền kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Căn cứ vào Điều 28; Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang; Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn được tống đạt hợp lệ lần thứ hai vắng mặt không lý do, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Th và anh L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, hai bên được tự do tìm hiểu và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã S, khi kết hôn đảm bảo các điều kiện kết hôn, không vi phạm điều cấm theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình nên xác định là hôn nhân hợp pháp. Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn thì thấy, chị Th trình bày vợ chồng mâu thuẫn dẫn đến tình cảm không còn, đề nghị giải quyết ly hôn. Tòa án tiến hành thông báo hòa giải nhưng anh L không đến Tòa án làm việc. Nay chị Th vẫn giữ nguyên nguyện vọng ly hôn. Xác định hôn nhân giữa chị Th và anh L đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể tiếp tục, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cị Th, cho chị Th ly hôn anh L theo quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Vợ chồng có hai con chung, anh L không trình bày nguyện vọng về nuôi con nên căn cứ Điều 81,82, 83 Luật hôn nhân và gia đình giao cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vi Nhật K và cháu Vi Anh Q. Về cấp dưỡng chị Th không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[4] Về án phí: Chi Th là nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[5] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 9, Điều 51, Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Q Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

  1. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Th.

    Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Th và anh Vi Văn L.

  2. Về con chung: Giao chi Nguyễn Thị Th trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vi Nhật K, sinh ngày 17/6/2017 và cháu Vi Anh Q, sinh ngày 25/10/2022 cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Sau khi ly hôn anh Vi Văn L được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở theo quy định pháp luật.

  3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Th phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0015170 ngày 13/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện L.

Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.

Án xử công khai sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện L;
  • - UBND xã S;
  • - Đương sự;
  • - Chi cục THADS huyện L;
  • - Cổng thông tin điện tử tòa án;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2023/HNGĐ-ST ngày 21/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 76/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xét xử ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger