Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHƯƠNG MỸ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2024/HS-ST

Ngày 21-06-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Hiểu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tiến Lợi

Bà Nguyễn Thị Hà

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đắc Hùng - Thư ký Của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Triệu Thị Hồng, Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý: 60/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 29/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 30/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Đinh Nhật T, sinh năm 2005; ĐKNKTT và chỗ ở: thôn Đ, xã Đ, huyện C, thành phố Hà Nội; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Đinh Văn N, sinh năm 1970; Mẹ đẻ: Đỗ Thị L, sinh năm 1979. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 11/11/2023 đến ngày 20/11/2023. Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

  1. Nghiêm Văn K, sinh năm 2005; ĐKNKTT và chỗ ở: thôn T, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Nghiêm Văn N1, sinh năm 1975; Mẹ đẻ: Đinh Thị T1, sinh năm 1980. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 11/11/2023 đến ngày 20/11/2023. Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

  1. Trần Bá P, sinh năm 2005; ĐKNKTT và chỗ ở: thôn T, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Trần Bá T2, sinh năm 1977; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1979. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 11/11/2023 đến ngày 20/11/2023. Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

Người bị hại:

  1. Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1981;

Địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, huyện C, thành phố Hà Nội. Có Đơn xin vắng mặt.

  1. Nguyễn Hữu H1, sinh năm 2008;

Đại diện theo pháp luật của Nguyễn Hữu H1: Bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1986; Có Đơn xin vắng mặt.

Cùng địa chỉ: thôn P, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội.

  1. Trịnh Đại N2, sinh năm 2006;

Đại diện theo pháp luật: ông Trịnh Đức T5, sinh năm 1953; Có Đơn xin vắng mặt.

Cùng địa chỉ: phố G, xã Đ, huyện C, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 03/11/2023, Đinh Nhật T đến quán T8 ở Tổ B, TDP T, TT X, C Mỹ để chơi game. T gọi điện thoại rủ bạn Dương Gia B đến quán cùng chơi game. B đồng ý. Trước khi đi B lại nhắn tin rủ Nghiêm Văn K và Trần Bá P, đều sinh năm 2005, cùng trú tại thôn T, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội đi chơi B1-a. P và K đồng ý, P điều khiển xe máy đến đón K, rồi tiếp tục cùng đến đón B đi chơi bi a.

Đến khoảng 01 giờ 00 phút sáng ngày 04/11/2023, B, P và K đến quán T8 thì gặp T ngồi chơi game trong quán. Nhưng B, K và P không chơi game mà cùng nhau đi lên tầng 3 của quán để chơi B1-a. Một lúc sau, T đi lên tầng 3 xem K, B và P đánh B1-a. Chơi bị a đến khoảng 07 giờ 00 phút cùng ngày, thì B, K và P nghỉ. Do không có tiền trả tiền chơi game và B1-a, nên B nói T, P và K ngồi lại chờ, để B về nhà lấy tiền trả.

Ngồi chờ đến khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày không thấy B quay lại trả tiền chơi game và chơi bi a, nên T hỏi K và P xem mượn được xe máy của ai không để T mang đi cầm cố lấy tiền trả tiền chơi game, P và K nói không mượn được xe của ai. T liền lấy điện thoại di động ra nhắn tin cho bạn là Cấn Đức V, nhờ V đi xe máy lên quán game TEEMO chở T về nhà, được V nhắn tin lại là có xe. Biết V đi xe máy đến đón, T nói với K và P khi V đi xe đến, thì K cứ nói mượn xe của V đi đâu đấy, còn T và P ở lại quán cùng V, sau đó T sẽ đi ra ngoài gặp K để lấy xe máy của V mang đi cầm cố lấy tiền trả tiền chơi game và chơi bị a. K và P đồng ý.

Khoảng 20 phút sau, V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A màu trắng bạc BKS: 29X2- 136.85 chở Nguyễn Hữu H1, sinh năm 2008, trú tại thôn P, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội. Xe Honda Wave A màu trắng bạc BKS: 29X2- 136.85 là của chị Nguyễn Thị T4, sinh năm 1986 mẹ đẻ của Nguyễn Hữu H1 đi đến quán T8. V đi lên tầng 3 gặp T, H1 ngồi ở xe chờ ở dưới sân. Do đã bàn bạc thống nhất từ trước, nên khi V đến, P liền nói dối với V là “cho K mượn xe đi mua cho P bát bún”, T nói thêm vào là “V cứ đưa cho K đi tý rồi về luôn”. Tin lời T nói, V đồng ý cho mượn xe máy, khi K hỏi chìa khoá xe, được V nói H1 đang cầm đứng ở dưới. K đi xuống gặp H1 nói là bạn của V, được V cho mượn xe đi mua bún, H1 liền giao xe cho K đi, H1 đi lên ngồi chờ cùng với V.

Khoảng 20 phút sau, T gọi điện bằng M cho K nói quay lại đón T. Khi thấy V và H1 không để ý, T đi xuống dưới, rồi đi bộ ra khu vực ngã tư X chờ gặp K. Khi K quay lại đón và giao xe máy cho T điều khiển, T chở K quay lại quán game, còn T tiếp tục điều khiển xe máy BKS: 29 X2-136.85 đi tìm nơi cầm cố xe. T điều khiển xe mô tô đến quán B2 ở thôn Y, Đ, C, Hà Nội gặp anh Nguyễn Gia V1 SN 1995, HKTT: thôn T, T, C, Hà Nội, T lại nói dối anh V1 là đang cần tiền có việc gấp, nên T muốn mượn Việt số tiền 4.000.000 đồng, để lại chiếc xe mô tô trên làm tin và sẽ gửi lại tiền rồi lấy xe sau. V1 hỏi xe của ai, thì được T nói xe của T, nhưng không mang theo giấy tờ. Tin tưởng T nói thật là xe của T, nên V1 lấy 4.000.000 đồng đưa cho T mượn, còn T để lại xe mô tô BKS: 29 X2 – 136.85 cho V1 giữ để làm tin. Có tiền, T quay lại quán G đưa cho P số tiền 317.000đ thanh toán tiền đánh Bi a và tiền chơi game, số tiền còn lại T đã ăn chơi hết.

Khi thấy K quay lại, V và H1 hỏi xe đâu, thì được K trả lời là T mượn xe đi có việc. V liền lấy điện thoại di động gọi điện cho T nhưng không gọi được, V và H1 đã đi tìm T không thấy, nên cả hai đi về nhà.

Lừa dối để mượn xe mô tô BKS: 29 X2-136.85 đi, Không thấy T trả xe, ngày 09/11/2023, Nguyễn Hữu H1 đến CATT X để trình báo sự việc T mượn xe mô tô BKS 29X2- 136.85 không trả. Biết việc H1 trình báo, đến ngày 10 và ngày 11/11/2023, Lần lượt, T, K và P đến CATT X đầu thú và khai nhận cùng nhau lừa dối V và H1 để mượn chiếc xe mô tô BKS: 29 X2 -136.85 đi cầm cố lấy tiền trả nợ tiền chơi game và chơi bị a.

Ngày 10/11/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã thu hồi lại được 01 chiếc xe mô tô BKS: 29X2- 136.85, nhãn hiệu Honda Wave A, màu trắng bạc, do Nguyễn Gia V1 ở Thôn T, xã T tự nguyện giao nộp.

Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan điều tra còn làm rõ ngoài hành vi trên, trước đó Đinh Nhật T còn thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản như sau:

- Vụ thứ nhất: Ngày 31/10/2023, Đinh Nhật T một mình đi bộ đến nhà Nguyễn Sỹ Tuấn A, sinh năm 02/09/2006, trú cùng thôn để chơi, thấy cửa cổng mở, T đi vào gọi Tuấn A, nhìn thấy Tuấn A đang nằm ngủ ở trong phòng. T quay lại đi ra ngoài sân quan sát, nhìn thấy 01 xe mô tô BKS: 30Y7 – 9784, nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ chị Nguyễn Thị T3, sinh năm 1981 (là mẹ đẻ của cháu Tuấn A) dựng ở sân, chìa khóa điện vẫn cắm ở ổ khóa. T liền đi đến dắt chiếc xe mô tô đi ra ngoài cổng, rồi nổ máy điều khiển xe đi đến gặp Cấn Đức V, sinh ngày 11/01/2007, trú tại thôn Q, xã Đ, C, Hà Nội. Gặp V, T nói dối là xe mượn của bạn, rồi rủ V đi cầm cố xe. T điều khiển xe chở V đến gặp Hà Quang T6, sinh năm 2000 ở tổ D, TDP T, TT X, C, Hà Nội để cầm cố xe. Khi đến V đứng ở ngoài chờ, còn T đi xe mô tô BKS: 30Y7 – 9784 vào gặp Tó nói muốn cầm cố xe lấy tiền. T6 hỏi xe của ai, thì T lại nói dối là xe của của mẹ T, xe không có giấy tờ. T6 đồng ý nhận cầm chiếc xe với số tiền 3.000.000 đồng, cắt lãi 300.000 đồng/tháng làm chi phí phát sinh trong quá trình cầm cố xe, hẹn 01 tháng sau đến chuộc lại. T6 chỉ đồng ý chuyển khoản cho vay cầm cố xe qua tài khoản Ngân hàng. Do T không có tài khoản Ngân hàng, nên T hỏi V để chuyển khoản nhờ vào tài khoản Ngân hàng Q số 0363120409 của V. T6 đã nhờ anh Trương Văn N3, sinh năm 1992, trú tại TDP X, TT X, C, Hà Nội (Trường được Nam thuê phụ giúp bán hàng tạp hóa) chuyển phần tiền lương của T6 là 2.700.000 đồng đến số tài khoản của V. Sau khi báo chuyển tiền thành công, T cùng V đi ra cây ATM ở thị trấn X rút số tiền 2.700.000 đồng. T cầm tiền sử dụng hết vào mục đích cá nhân.

Phát hiện bị mất xe máy, ngày 03/11/2023, chị Nguyễn Thị T3 đến Công an xã Đ để trình báo sự việc mất trộm xe mô tô BKS: 30Y7 – 9784.

Từ lời khai của Đinh Nhật T, ngày 09/11/2023 Cơ quan điều tra Công an huyện C tiến hành thu hồi lại chiếc xe mô tô BKS: 30Y7 – 9784, nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, do Hà Quang T6 ở số A, tổ D, tổ T, TT X, Chương M tự nguyện giao nộp.

- Vụ thứ hai: Đinh Nhật T với Trịnh Đại N2, sinh ngày 02/03/2006, trú tại phố G, Đ, huyện C, thành phố Hà Nội là bạn bè, có sự quen biết nhau từ trước. Chiều ngày 01/11/2023, T nhắn tin cho N2 và biết N2 đang chơi game ở quán T8 ở Tổ B, TDP T, TT X, C làm chủ. T đến quán game gặp N2 và ngồi cạnh N2 cùng chơi game. Chơi được khoảng 30 phút, biết là N2 đi bằng xe máy, nên T đã này sinh ý định nói dối N2 để mượn xe mô tô của N2 mang đi cầm cố lấy tiền ăn chơi. Khi hỏi mượn xe, N2 không cho mượn. Thấy vậy, để N2 tin tưởng, T cho N2 xem tin nhắn trên ứng dụng Messenger giữa T và Dương Gia B, sinh năm 2004, trú cùng thôn với T về việc T nhắn tin đến đón B. N2 tưởng thật, đã đồng ý cho T mượn xe mô tô BKS: 29G1 – 307.41, nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng bạc đen của ông Trịnh Đức T5, sinh năm 1953 (là ông nội của Trịnh Đại N2). Sau khi có được xe của N2, T nhắn tin rủ B đi chơi. T điều khiển xe đi đến đón B, rồi tiếp tục chở B đi đến gặp anh Hà Quang T6, sinh năm 2000, ở tổ D, TDP T, TT X, C, Hà Nội để cầm cố xe máy, khi T đến gặp T6, B không đi cùng T, mà đi bộ đến quán X-a.

T đi đến gặp anh T6 hỏi muốn cầm cố xe. T nói dối anh T6 đây là xe của T, không có giấy tờ, muốn cầm cố, T6 đồng ý nhận cầm chiếc xe trên với số tiền 3.000.000 đồng, cắt lãi 300.000 đồng/tháng làm chi phí phát sinh trong quá trình cầm cố xe, hẹn 01 tháng sau đến chuộc lại. T6 chỉ đồng ý chuyển khoản cho vay cầm cố xe qua tài khoản Ngân hàng. Do T không có tài khoản Ngân hàng, T liền gọi B nhờ số tài khoản của B để chuyển nhờ tiền vào tài khoản, nhưng B nói không có tài khoản Ngân hàng, B đã hỏi bạn là Lý Huỳnh Đ cho mượn số tài khoản chuyển nhờ tiền vào tài khoản. Đ đồng ý đưa số tài khoản là 8800181239999, Ngân hàng M1 của Đ. T6 đã nhờ anh Trương Văn N3 chuyển phần tiền lương của T6 là 2.700.000 đồng đến số tài khoản của Đ. Sau khi báo chuyển tiền thành công, B đến gặp Đ lấy 2.700.000 đồng rồi quay lại đưa tiền cho T, B đã hỏi vay của T 700.000 đồng, rồi cầm tiền đến quán X-men tiếp tục đánh B1-a. Khi có 2.000.000 đồng, T đi ăn chơi hết.

Trịnh Đại N2 sau khi phát hiện bị T lừa mượn xe đã nhiều lần đi tìm T không gặp được T để đòi lại xe máy. Đến ngày 10/11/2023, Trịnh Đại N2 đến CATT X để trình báo sự việc Đinh Nhật T Lừa đảo chiếc xe mô tô BKS: 29G1 – 307.41.

Từ lời khai của Trịnh Đại N2, ngày 11/11/2023 Cơ quan điều tra Công an huyện C tiến hành thu hồi lại chiếc xe mô tô BKS: 29G1 – 307.41, nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng bạc đen, do Hà Quang T6 tự nguyện giao nộp.

* Vật chứng vụ án:

  • 01 chiếc xe mô tô BKS 29G1-307.41 nhãn hiệu Honđa Wave, sơn màu nâu cũ đã qua sử dụng;
  • 01 chiếc xe mô tô BKS: 30Y7-9784 nhãn hiệu Honđa Wave màu sơn Đỏ, đen, bạc. Số khung: 031266, số máy: 2531363, xe cũ đã qua sử dụng;
  • 01 chiếc xe mô tô BKS: 29X2-136.85 nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng bạc, số khung: RLHJA3924PY542303, số máy: JA39E3182194; xe cũ, đã qua sử dụng.

Tại bản kết luận định giá số 157, 158 ngày 10/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện C kết luận:

  • 01 chiếc xe mô tô BKS: 30Y7-9784 màu sơn Đ1, đen, bạc. Số khung: 031266, số máy: 2531363, xe cũ đã qua sử dụng có giá trị là 7.500.000₫ (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng).
  • 01 (một) xe mô tô BKS: 29X2 - 136.85 nhãn hiệu Honda Wave A, màu trắng bạc, số khung: RLHJA3924PY542303, số máy: JA39E3182194; xe cũ, đã qua sử dụng có giá trị là 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng).
  • 01 (một) xe mô tô BKS: 29G1 - 307.41 nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng bạc đen, số khung: 1211DY031450, số máy: HC12E5030150; xe cũ, đã qua sử dụng có giá trị là 10.000.000₫ (Mười triệu đồng).

*Trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng.

  • - 01 chiếc xe mô tô BKS: 30Y7 - 9784, chủ xe là chị Nguyễn Thị T3 (là mẹ đẻ của cháu Nguyễn Sỹ Tuấn A). 01 chiếc xe mô tô BKS: 29X2-136.85, chủ xe là chị Nguyễn Thị T4 (là mẹ đẻ của cháu Nguyễn Hữu H1). 01 chiếc xe mô tô BKS: 29G1 - 307.41, do ông Trịnh Đức T5 (là ông nội của Trịnh Đại N2) là chủ sở hữu hợp pháp. Chị Nguyễn Thị T3, chị Nguyễn Thị T4 và ông Trịnh Đức T5 đều có đơn xin lại các chiếc xe mô tô trên để về quản lý, sử dụng. Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trao trả lại 03 chiếc xe mô tô trên cho chủ sở hữu hợp pháp là chị T3, chị T4 và ông T5 quản lý, sử dụng. Sau khi nhận lại tài sản chị T3, chị T4, ông T3 không có yêu cầu, đề nghị bồi thường gì.
  • - Anh Hà Quang T6 và anh Nguyễn Gia V1 không yêu cầu Đinh Nhật T bồi thường gì.

Tại bản cáo trạng số 19/CT-VKS-CM ngày 14/02/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ đã truy tố hành vi của Đinh Nhật T lén lút trộm cắp 01 chiếc xe mô tô BKS 30Y7-9784 trị giá 7.500.000 đồng, đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS và hành vi 02 lần gian dối chiếm đoạt

02 xe mô tô BKS 29X2-136.85 và xe mô tô BKS 29G1-307.41 có tổng trị giá 25.000.000 đồng mang đi cầm cố.

Hành vi gian dối chiếm đoạt xe mô tô BKS 29X2-136.85 trị giá 15.000.000 đồng mang đi cầm cố của Nghiêm Văn K và Trần Bá P, đã phạm vào tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 điều 174 BLHS.

Tại phiên tòa Đinh Nhật T, Nghiêm Văn K và Trần Bá P đã khai nhận hành toàn bộ hành vi phạm tội của mình. 03 bị cáo ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh gia đình cho các bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa xác định Khoảng 16 giờ ngày 04/11/2023 tại quán G ở tổ B, TDP T, TT X, huyện C, thành phố Hà Nội Đinh Nhật T, Trần Bá P, Nghiêm Văn K đã bàn bạc, thống nhất với nhau đưa ra thông tin gian dối để mượn chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô BKS 29X2–136.85 trị giá 15.000.000 đồng mang đi cầm cố để lấy tiền trả tiền chơi game và chơi bi a.

Trước đó, Đinh Nhật T một mình đã 02 lần thực hiện các hành vi phạm tội:

  • + Vào ngày 31/10/2023, Đinh Nhật T đưa ra thông tin gian dối để lừa đảo chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô BKS 29G1-307.41 trị giá 10.000.000 đồng của anh Trịnh Đại N2 mang đi cầm cố lấy tiền tiêu xài cá nhân.
  • + Vào ngày 01/11/2023, Đinh Nhật T trộm cắp chiếc xe mô tô BKS: 30Y7- 9784 trị giá: 7.500.000 đồng mang đi cầm cố cho anh Hà Văn T7 lấy lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt Đinh Nhật T từ 03 tháng đến 06 tháng tù giam.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm khoản 1 Điều 174; điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 55, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt Đinh Nhật T từ 08 tháng đến 10 tháng tù giam.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm khoản 1 Điều 174; điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt Nghiêm Văn K từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm khoản 1 Điều 174; điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt Trần Bá P từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị không xem xét.

Về dân sự: Cơ quan CSĐT đã trao trả lại 03 chiếc xe mô tô trên cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Nguyễn Thị T3, chị Nguyễn Thị T4 và ông Trịnh Đức T5 quản lý, sử dụng. Sau khi nhận lại tài sản chị T3, chị T4, ông T3 không có yêu cầu, đề nghị bồi thường gì khác nên đề nghị không xem xét.

- Anh Hà Quang T6 và anh Nguyễn Gia V1 không không yêu cầu Đinh Nhật T bồi thường nên đề nghị không xem xét.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, những người tham gia tố tụng, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo Đinh Nhật T, Nghiêm Văn K và Trần Bá P nhận thấy:

Tại phiên tòa các bị cáo Đinh Nhật T, Nghiêm Văn K và Trần Bá P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội truy tố. Lời khai của các bị cáo cũng phù hợp với Đơn xin đầu thú, Biên bản khám nghiệm hiện trường; lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đợc đa ra thẩm vấn, tranh luận công khai tại phiên toà, thể hiện:

[2.1]. Ngày 31/10/2023, Đinh Nhật T một mình đi bộ đến nhà Nguyễn Sỹ Tuấn A, sinh ngày 02/09/2006, trú cùng thôn để chơi, T đi vào trong nhà nhìn thấy Tuấn A đang nằm ngủ ở trong phòng. T nhìn thấy 01 xe mô tô BKS: 30Y7 – 9784, nhãn hiệu H2, dựng ở sân, chìa khóa điện vẫn cắm ở ổ khóa. T liền đi đến dắt chiếc xe mô tô đi ra ngoài cổng, rồi nổ máy điều khiển xe đi đến gặp Cấn Đức V, sinh năm 2007. T nói

là xe mượn của bạn, rồi rủ V đi cầm cố xe. T điều khiển xe chở V đến gặp Hà Quang T6, sinh năm 2000 ở tổ D, TDP T, TT X, C, Hà Nội để cầm cố xe. T lại nói dối là xe của của mẹ T, xe không có giấy tờ, cầm chiếc xe với số tiền 2.700.000 đồng. T cầm tiền sử dụng hết vào mục đích cá nhân.

Tại bản kết luận định giá số 157, 158 ngày 10/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện C kết luận: 01 chiếc xe mô tô BKS: 30Y7-9784 màu sơn Đ1, đen, bạc. Số khung: 031266, số máy: 2531363, xe cũ đã qua sử dụng có giá trị là 7.500.000 đồng (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng).

Hội đồng xét xử xét thấy, Đinh Nhật T đã lợi dụng sự mất cảnh giác trong việc trông giữ tài sản của người dân đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 chiếc xe mô tô có giá trị là 7.500.000 đồng (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng). Như vậy có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Đinh Nhật T phạm tội Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt đợc quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Đinh Nhật T có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố đối với bị cáo Đinh Nhật T là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[2.2]. Chiều ngày 01/11/2023, T nhắn tin cho N2 (là bạn bè, có sự quen biết nhau từ trước) và biết được N2 đang chơi game ở quán T8. T đến quán game gặp N2, biết là N2 đi bằng xe máy, nên đã này sinh ý định nói dối N2 để mượn xe của N2 mang đi cầm cố lấy tiền ăn chơi. Để N2 tin tưởng, T cho N2 xem tin nhắn trên ứng dụng Messenger giữa T và Dương Gia B, sinh năm 2004, trú cùng thôn với T về việc T nhắn đến đón B. N2 tưởng thật, đã đồng ý cho T mượn xe mô tô BKS: 29G1 – 307.41, nhãn hiệu Honda Wave. T điều khiển xe đi đến đón B, rồi tiếp tục chở B đi gặp anh Hà Quang T6 SN 2000 để cầm cố xe. T nói đây là xe của T, không có giấy tờ, cầm cố chiếc xe trên với số tiền 2.700.000 đồng. B đã hỏi vay của T 700.000 đồng, còn 2.000.000 đồng T chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 03/11/2023, Đinh Nhật T đến quán T8 để chơi game. T gọi điện thoại rủ bạn Dương Gia B đến quán cùng chơi game. B lại nhắn tin rủ Nghiêm Văn K và Trần Bá P đi chơi Bi-a. P điều khiển xe máy đến đón K, rồi tiếp tục cùng đến đón B đi chơi bi a. Đến khoảng 07 giờ 00 phút sáng ngày 04/11/2023, do không có tiền trả tiền chơi game và B1-a, nên B nói T, P và K ngồi lại chờ, để B về nhà lấy tiền trả.

Ngồi chờ đến khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày vẫn không thấy B quay lại, nên T hỏi K và P xem mượn được xe máy của ai không để T mang đi cầm cố lấy tiền trả tiền chơi game, P và K nói không mượn được xe của ai. T liền lấy điện thoại di

động ra nhắn tin cho bạn là Cấn Đức V, nhờ V đi xe máy lên quán G chở T về nhà. Biết là V đi xe máy đến đón, T liền nói với K và P là tý nữa V đi xe đến, thì K cứ nói mượn xe của V đi đâu đấy, còn P ở lại quán cùng V làm tin, sau đó T sẽ đi ra ngoài gặp K để lấy xe máy của V mang đi cầm cố lấy tiền trả tiền chơi game và chơi bi a K và P đồng ý. Khoảng 20 phút sau, V điều khiển xe mô tô của Nguyễn Hữu H1 đi đến quán T8. Do đã bàn bạc thống nhất từ trước, nên khi V đến, P liền nói dối với V cho K mượn xe đi mua bún. K hỏi chìa khoá xe, được V nói H1 đang cầm đứng ở dưới. K đi xuống gặp H1 nói là bạn của V, được V cho mượn xe đi mua bún, H1 liền giao xe cho K đi. Khoảng 20 phút sau, khi thấy V và H1 không để ý, T đi xuống dưới, rồi đi bộ ra khu vực ngã tư X lấy xe từ Khoa rồi điều khiển xe máy BKS: 29 X2-136.85 đi gặp anh Nguyễn Gia V1, sinh năm 1995, T lại nói dối anh V1 là xe của T, nhưng không mang theo giấy tờ, đang cần tiền có việc gấp, nên T muốn mượn Việt số tiền 4.000.000 đồng, để lại chiếc xe mô tô trên làm tin và sẽ gửi lại tiền rồi lấy xe sau. Có tiền, T quay lại quán G đưa cho P số tiền 317.000 đồng thanh toán tiền đánh Bi a và tiền chơi game, số tiền còn lại T chi tiêu cá nhân hết.

Tại bản kết luận định giá số 157, 158 ngày 10/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện C kết luận:

  • + 01 (một) xe mô tô BKS: 29X2 - 136.85 nhãn hiệu Honda Wave A, màu trắng bạc, số khung: RLHJA3924PY542303, số máy: JA39E3182194; xe cũ, đã qua sử dụng có giá trị là 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng).
  • + 01 (một) xe mô tô BKS: 29G1 - 307.41 nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng bạc đen, số khung: 1211DY031450, số máy: HC12E5030150; xe cũ, đã qua sử dụng có giá trị là 10.000.000₫ (Mười triệu đồng).

Hội đồng xét xử xét thấy, Đinh Nhật T do cần tiền chi tiêu cá nhân đã dùng thủ đoạn nói dối là mượn xe để đi đón bạn chiếm đoạt tài sản là xe mô tô BKS: 29G1 - 307.41 nhãn hiệu Honda Wave, có giá trị là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) của anh Trịnh Đại N2; Đinh Nhật T bàn bạc, phân công nhiệm vụ với Nghiêm Văn K và Trần Bá P dùng thủ đoạn gian dối nói dối về việc mượn xe để đi mua đồ cá nhân để chiếm đoạt tài sản là xe mô tô BKS: 29X2 - 136.85 nhãn hiệu Honda Wave A, có giá trị là 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) của anh Nguyễn Hữu H1. Hành vi hai lần dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản có tổng giá trị là 25.000.000 đồng của bị cáo Đinh Nhật T, phạm vào Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 174 BLHS.

Nghiêm Văn K và Trần Bá P do cần tiền chi tiêu cá nhân đã cùng nhau bàn bạc, phân công nhiệm vụ với Đinh Nhật T, dùng thủ đoạn gian dối nói dối về việc mượn xe để đi mua đồ cá nhân để chiếm đoạt tài sản là xe mô tô BKS: 29X2 - 136.85 nhãn

hiệu Honda Wave A, có giá trị là 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) của anh Nguyễn Hữu H1. Hành vi dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản có giá trị là 15.000.000 đồng của bị cáo Nghiêm Văn K và bị cáo Trần Bá P phạm vào Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 174 BLHS.

Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyên Chương Mỹ truy tố các bị cáo Đinh Nhật T, Nghiêm Văn K và Trần Bá P về tội trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Đối với Hà Quang T6: Không kinh doanh dịch vụ cầm đồ. T6 đã nhận cầm cố mỗi xe 3.000.000 đồng, cắt lãi mỗi xe 300.000 đồng/tháng. Cơ quan CSĐT không có tài liệu khác thể hiện việc T6 biết tài sản T mang đến cầm cố do T phạm tội mà có nên, Cơ quan CSĐT không đề cập xử lý gì đối với T6.

Đối với Dương Gia B, ngày 01/11/2023 có trao đổi với Đinh Nhật T về việc cầm cố xe máy, B mượn số tài khoản của Lý Huỳnh Đ để T nhận số tiền cầm cố được và vay của T số tiền 700.000 đồng trong số tiền cầm cố xe máy. Cơ quan CSĐT không đề cập xử lý đối với Dương Gia B.

Tại Quyết định số 03/2024/HSST-QĐ ngày 09/3/2024 Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung để Làm rõ dấu hiệu đồng phạm về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Dương Gia B, sinh năm 2004 theo quy định tại Điều 174 BLHS năm 2015; Làm rõ hành vi của Hà Quang T6, sinh năm 2000 có dấu hiệu tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Điều 323 BLHS năm 2015. Tại văn bản số 76/VKS-CM ngày 06/5/2024 về việc Phúc đáp hồ sơ trả điều tra bổ sung của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ xác định không đủ căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự đối với Dương Gia B, Hà Quang T6 nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Nguyễn Gia V1: Không kinh doanh dịch vụ cầm đồ. Do quen biết Đinh Nhật T, nên khi T nói mượn tiền và để lại chiếc xe mô tô BKS: 29X2 - 136.85 để làm tin, T nói đây là xe của T, giấy tờ để ở nhà, V1 đã tin tưởng và cho T mượn số tiền 4.000.000 đồng. V1 không biết chiếc xe mô tô trên do T phạm tội mà có, Cơ quan CSĐT cũng không có tài liệu khác thể hiện việc V1 biết tài sản T mang đến làm tin do T phạm tội mà có. Nên, hành vi trên của V1 không có dấu hiệu của tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có". Cơ quan CSĐT không đề cập xử lý gì đối với V1 nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Cấn Đức V: Ngày 31/10/2023, không biết Đinh Nhật T thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô BKS: 30Y7 - 9784 của Nguyễn Thị T3, khi T mang xe mô

tô đi cầm cố, T nói với V là xe mô tô mượn của bạn. Sau đó, V cho B mượn số tài khoản để nhận số tiền cầm cố được, V không hưởng lợi từ số tiền cầm cố. Ngày 04/11/2023 V không được bàn bạc, thống nhất với Đinh Nhật T, Nghiêm Văn K và Trần Bá P để lừa đảo chiếm đoạt xe của Nguyễn Hữu H1 mang đi cầm cố. Cơ quan CSĐT không thu thập được tài liệu nào khác, không đề cập xử lý đối với Cấn Đức V nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với anh Lê Tuấn A1 (Chủ quán T8): Quân TEEMO GAMING của anh Tuấn A1 có đủ giấy tờ hoạt động theo quy định. Ngày 03/11/2023 quán game hoạt động đến sáng ngày 04/11/2023 . Hành vi “Hoạt động ngoài khoảng thời gian từ 08 giờ sáng đến 22 giờ đêm hàng ngày” của quán G do anh Tuấn A1 làm chủ đã Vi phạm quy định về điểm cung cấp dịch vụ trò chơi công cộng, theo điểm đ, khoản 3, Điều 105 Nghị định số 15/2020 / NĐ - CP ngày 03/02/2020 của Chính Phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử. Cơ quan CSĐT đã chuyển các tài liệu liên quan đến Đội An ninh Công an huyện C để xử phạt vi phạm hành chính anh Lê Tuấn A1 về hành vi vi phạm trên theo quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[3.1]. Hành vi phạm tội trộm cắp tài sản của bị cáo Đinh Nhật T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do vậy, cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo, đáp ứng yêu cầu đấu tranh đảm bảo an ninh trật tự tại địa phương, để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về nhân thân: bị cáo phạm tội lần đầu

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tang vật đã bị thu hồi gây thiệt hại không lớn; người bị hại đã nhận lại tài sản và có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử xác định bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để xem xét áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cho bị cáo.

[3.2]. Trong vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản có đồng phạm Đinh Nhật T, Nghiêm Văn K và Trần Bá P đã thống nhất với nhau, phân công nhiệm vụ để thực hiện thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản. Hội đồng xét xử phân hóa trách nhiệm hình sự của từng bị cáo theo tính chất mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo.

- Đối với Đinh Nhật T là người cầm đầu, chủ mưu. Trước ngày thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản 02 ngày T đã thực hiện việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Hội đồng xét xử xác định hành vi phạm tội của bị cáo là 02 lần phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo Đinh Nhật T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do vậy, cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo, đáp ứng yêu cầu đấu tranh đảm bảo an ninh trật tự tại địa phương, để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về nhân thân: bị cáo phạm tội lần đầu

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo 02 lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong đó có 01 lần phạm tội với người bị hại là Nguyễn Hữu H1, sinh năm 2008 là người dưới 16 tuổi nên bị cáo bị áp dụng 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm g, i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đầu thú, tang vật đã bị thu hồi gây thiệt hại không lớn; người bị hại đã nhận lại tài sản và có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử xác định bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Hội đồng xét xử xác định bị cáo có 02 tình tiết tăng nặng, 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 52 và Khoản 1 Điều 51 căn cứ tính chất hành vi phạm tội của T cần có hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội nhằm giáo dục cải tạo bị cáo, để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

- Đối với Nghiêm Văn K và Trần Bá P đã thống nhất với Đinh Nhật T, thực hiện sự phân công nhiệm vụ để thực hiện thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản. Nghiêm Văn K là người thực hành tích cực thực hiện hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản rồi giao cho T mang đi cầm cố; Trần Bá P thực hiện hành vi giúp sức tích cực tạo niềm tin, đánh lạc hướng tập trung của bị hại để cùng nhau chiếm đoạt tài sản.

Về nhân thân: 02 bị cáo phạm tội lần đầu

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: 02 bị cáo phạm tội với người bị hại là Nguyễn Hữu H1, sinh năm 2008 là người dưới 16 tuổi nên 02 bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa 02 bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tang vật đã bị thu hồi gây thiệt hại không lớn; 02 bị cáo đầu thú; người bị hại đã nhận lại tài sản và có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử xác định bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ tính chất mức độ đồng phạm trong vụ án của các bị cáo, 02 bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội, có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, Điều 51; 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có đủ các điều kiện để áp dụng biện pháp chấp hành hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 cũng đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo, tạo cơ hội cho bị cáo tu dưỡng, rèn luyện bản thân để trở thành công dân có ích cho xã hội, lao động giúp đỡ gia đình.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[5]. Về xử lý vật chứng: không xem xét

[6]. Về dân sự: Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trao trả lại 03 chiếc xe mô tô trên cho chủ sở hữu hợp pháp là Chị Nguyễn Thị T3, chị Nguyễn Thị T4 và ông Trịnh Đức T5 quản lý, sử dụng. Sau khi nhận lại tài sản chị T3, chị T4, ông T5 không có yêu cầu, đề nghị bồi thường gì khác về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Anh Hà Quang T6 và anh Nguyễn Gia V1 là những người nhận cầm cố xe máy từ Đinh Nhật T, đã chuyển tiền cầm cố cho T nhưng không yêu cầu Đinh Nhật T bồi thường về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7]. Về án phí: các Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Đinh Nhật T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt Đ (Ba) tháng tù giam.

  1. Tuyên bố bị cáo Đinh Nhật T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g, i khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 55, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt Đ (Tám) tháng tù giam.

Tổng hợp hình phạt chung đối với bị cáo Đinh Nhật T là 11 (Mười một) tháng tù được trừ thời gian tam giam từ ngày 11/11/2023 đến ngày 20/11/2023. Thời hạn tù từ ngày bắt thi hành án.

  1. Tuyên bố bị cáo Nghiêm Văn K phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt N (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng.

Giao bị cáo Nghiêm Văn K cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, TP . giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Bá P phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt Trần Bá P 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng.

Giao bị cáo Trần Bá P cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, TP . giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.

  1. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  1. Về dân sự: Không xem xét.
  1. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và xử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo Đinh

Nhật T, Nghiêm Văn K và Trần Bá P mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  1. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự các bị cáo Đinh Nhật T, Nghiêm Văn K và Trần Bá P được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quang Hiểu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản và lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 76/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản, Lừa đảo chiểm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger