Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

VIỆT NAM

THÀNH PHỐ LONG KHÁNH

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2024/HS-ST

Ngày: 21 - 5 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Trường

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Thanh Tâm

Ông Đinh Văn Thông

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Tiến Danh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 67/2024/HSST ngày 12 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2024/QĐXXST - HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Xuân T, sinh năm 1989, tại Đồng Nai; nghề nghiệp: không; Nơi cư trú: K61, tổ A, khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; Chổ ở: tổ A, ấp B, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 08/12; con ông Nguyễn Xuân T1, sinh năm 1952 và bà Nguyễn Thị Xuân N, sinh năm 1960; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Không.

    Tiền sự: Ngày 13/12/2023, Ủy ban nhân dân phường X, thành phố L ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 204/QĐ-XPHC do Nguyễn Xuân T có hành vi Trộm cắp tài sản, hình thức xử phạt là phạt tiền, số tiền 2.500.000 đồng, chưa chấp hành

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/01/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L đến nay.

  2. Trần Thế N1 (tên gọi khác: Ngọc Đ), sinh năm 1989, tại Đồng Nai; nghề nghiệp: không; Nơi cư trú: số nhà A, đường N, tổ A, khu phố D, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: 12/12; con ông Trần Thế V, sinh năm 1946 (đã chết) và bà Trần Thị Ú, sinh năm 1946; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: Không.

    Tiền sự: Ngày 13/12/2023, Ủy ban nhân dân phường X, thành phố L ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 204/QĐ-XPHC do Trần Thế N1 có hành vi Trộm cắp tài sản, hình thức xử phạt là phạt tiền, số tiền 2.500.000 đồng, chưa chấp hành.

    Nhân thân: Ngày 01/8/2011, bị Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh (nay là thành phố L), tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 04 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm 08 tháng về tội “Giao cấu với trẻ em”, tại bản án số 54/2011/HSST. Ngày 01/4/2014 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/01/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L đến nay.

- Bị hại: Ông Nguyễn Toàn L, sinh năm 1957.

Nơi cư trú: số C, đường N, khu phố C, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1966

    Nơi cư trú: số C, đường N, khu phố C, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

  2. Anh Đặng Hoàng Xuân V1, sinh năm 1984

    Nơi cư trú: 125/12, tổ B, khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai

(Các bị cáo có mặt, bị hại và người liên quan có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Xuân T và Trần Thế N1 là những đối tượng nghiện ma túy nhưng không có nghề nghiệp ổn định. Để có tiền tiêu xài cá nhân và mua ma túy để sử dụng, Nguyễn Xuân T và Trần Thế N1 đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn phường X, thành phố L cụ thể như sau:

Vào khoảng 15 giờ 10 phút ngày 08/12/2023, Nguyễn Xuân T và Trần Thế N1 đã lén lút vào nhà ông Lê Bá T2, ngụ tổ G, khu phố B, phường X, thành phố L lấy trộm 01 cuốn lưới B40 trị giá 100.000 đồng thì bị bắt giữ và Công an phường X đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính Nguyễn Xuân T và Trần Thế N1 mỗi người 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản

Đến khoảng 16 giờ ngày 24/01/2024, T sử dụng xe mô tô hiệu Attila, biển số 54S6-3679 của ông Đặng Hoàng Xuân V1, sinh năm 1984, ngụ phường X, thành phố L đi đến nhà của N1 chơi và rủ N1 đi trộm cắp tài sản, N1 đồng ý. Sau đó, T chở N1 đi đến quán C trên đường N, phường X, thành phố L của ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1966, ngụ phường X, thành phố L, do quán cà phê đang ngưng hoạt động nên ông B có giao cho ông Nguyễn Toàn L, sinh năm 1957, ngụ ngụ phường X, thành phố L trông coi và quản lý tài sản trong quán. Sau khi đến quán và không thấy ai trông coi, T và N1 mở cổng đi vào quán, T đi lên tầng 1 của quán, còn N1 đứng dưới đợi, T thấy có 02 khung sắt và 01 giá phơi quần áo đang để ở tầng 1 nên lấy 02 khung sắt đưa cho N1 mang ra để gần trước cổng, T tiếp tục lấy 01 giá phơi quần áo đưa cho N1 thì bị công an phường X đang đi tuần tra phát hiện bắt quả tang. Tại cơ quan Công an, Nguyễn Xuân T và Trần Thế N1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản kết luận số 06/HĐĐGTTTHS, ngày 26 tháng 01 năm 2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L kết luận: 02 khung sắt và giá phơi đồ bằng sắt hộp bị rỉ sắt, đã qua sử dụng (thời điểm ngày 24/01/2024) có giá trị 240.000 đồng (Hai trăm bốn mươi ngàn đồng)

Vật chứng thu giữ: 02 khung sắt và 01 giá phơi đồ bằng sắt hộp bị rỉ sắt, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã thu hồi và trả lại cho ông Nguyễn Toàn L; Xe mô tô hiệu Attila, biển số 54S6-3679 đã hoàn trả cho anh Đặng Hoàng Xuân V1, anh V1 và ông L không có yêu cầu gì.

Tại bản Cáo trạng số: 62/CT-VKSLK ngày 09/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Xuân T và Trần Thế N1 về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay:

* Các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tham gia tranh luận.

* Bị hại, người liên quan vắng mặt nên không có lời trình bày, Hội đồng xét xử công bố lời khai của họ tại cơ quan điều tra.

* Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi phạm tội của các bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T: 08 đến 12 tháng tù giam.

+ Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h,s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Thế N1: 08 đến 12 tháng tù giam.

- Về trách nhiệm dân sự và vật chứng: Đã giải quyết xong nên không đặt ra xem xét.

* Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, các bị cáo nói sau cùng: Thời gian bị tạm giam bị cáo biết hành vi của mình là sai, kính xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa bị hại, người liên quan vắng mặt nhưng cơ quan điều tra đã xác minh, làm việc nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại các Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 24/01/2024, lợi dụng sở hở của ông Nguyễn Toàn L là quản lý quán C trên đường N, phường X, thành phố L, Nguyễn Xuân T và Trần Thế N1 đã lén lút lấy trộm 02 khung sắt và 01 giá phơi đồ bằng sắt có giá trị 240.000 đồng thì bị công an phường X phát hiện bắt giữ. Mặc dù trị giá tài sản trộm cắp dưới 2.000.000 đồng nhưng vào ngày 13/12/2023, Nguyễn Xuân T và Trần Thế N1 đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” nên hành vi của Nguyễn Xuân T và Trần Thế N1 đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo như trên là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Xét tính chất, mức độ của hành vi của các bị cáo:

Qua hành vi phạm tội đã thể hiện các bị cáo ý thức xem thường pháp luật và nhận thức việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng chỉ vì thỏa mãn nhu cầu cá nhân, muốn có tiền tiêu xài thỏa mãn nhu cầu nghiện ma túy mà không phải lao động nên các bị cáo đã bất chấp tất cả, dấn thân vào con đường phạm tội. Các bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của bị hại để lén lút chiếm đoạt tài sản, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, bất bình trong quần chúng nhân dân.

[5] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và hình phạt đối với các bị cáo:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội gây thiệt hại không lớn; riêng bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo N1 có nhân thân xấu, các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Căn cứ vào hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét cần áp dụng mức án nghiêm buộc phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời có tác dụng chung trong việc đấu tranh và phòng ngừa tội phạm.

Ngoài hình phạt chính các bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Tài sản đã thu hồi trả cho bị hại, bị hại không có ý kiến yêu cầu gì, người liên quan không yêu cầu gì nên không xem xét.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân T 07 (Bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/01/2024.

  2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

    Tuyên bố bị cáo Trần Thế N1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt: Bị cáo Trần Thế N1 08 (Tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/01/2024.

    Tiếp tục tạm giam các bị cáo Nguyễn Xuân T, Trần Thế N1 để đảm bảo thi hành án.

  3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2, Điều 136 của Bộ Luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Mỗi bị cáo Nguyễn Xuân T, Trần Thế N1 phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm

  4. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án tống đạt bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND TP. Long Khánh;
  • - Công an TP. Long Khánh;
  • - THADS TP. Long Khánh;
  • - Bị cáo; Bị hại; Người liên quan;
  • - Lưu HS;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/HS-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 76/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xuan Thien và dp trom cap tai san
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger