TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 76/2025/DS-PT
Ngày: 15 - 4 - 2025
V/v: Tranh chấp về hợp đồng
dân sự vay tài sản - Hụi
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Hùng
Các Thẩm phán: Ông Võ Hoàng Khải
Ông Nguyễn Hữu Bằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Kiều Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa:
Bà Phùng Bích Tuyền - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 73/2025/TLPT-DS, ngày 05 tháng 3 năm 2025 về việc: Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản - Hụi.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 73/2023/DS-ST, ngày 21 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 73/2025/QĐ-PT ngày 17 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T;
- Địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ (Có mặt);
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị B (Chín Vận);
- Địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang (Có mặt).
Người kháng cáo:
- Bà Nguyễn Thị T, là nguyên đơn.
- Bà Nguyễn Thị B, là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện (BL 06), các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và quá trình tố tụng ở cấp sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào ngày 04/5/2021 âm lịch (AL) bà Nguyễn Thị T có mở dây hụi 1.000.000 đồng/tháng, gồm có 20 phần, bị đơn bà Nguyễn Thị B tham gia 02 phần. Sau khi mở hụi được tháng đầu thì phải ngưng do dịch bệnh C, đến tháng 9/2021 AL hụi được tiếp tục, quá trình bà B hốt hụi như sau:
Lần 1: Ngày 04/12/2021 AL, bà B kêu là 300.000 đồng, hốt được số tiền 13.300.000 đồng.
Lần 2: Ngày 04/9/2022 AL, bà B kêu 250.000 đồng, hốt được số tiền là 16.000.000 đồng.
Cả hai lần bà B hốt hụi, bà T đều giao đủ tiền cho bà B; sau khi hốt hụi, bà B có đóng hụi chết của 02 phần hụi này cho đến tháng 10/2022 AL thì ngưng không đóng nữa; dây hụi này còn 05 lần thì mãn hụi. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ, nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn bà Nguyễn Thị B (C) phải trả lại cho bà T số tiền hụi chết của 05 lần x 02 phần = 10.000.000 đồng và lãi suất theo quy định của pháp luật, tính từ ngày 14/11/2022 cho đến ngày Tòa án giải quyết.
Theo biên bản lấy lời khai ngày 31/10/2023 (BL 15), quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm, bị đơn bà Nguyễn Thị B trình bày: Bà B thừa nhận, vào ngày 04/5/2021 AL bà B có tham gia dây hụi tháng 1.000.000đ, do bà Nguyễn Thị T làm chủ hụi, dây hụi có 20 phần, bà B tham gia 02 phần, hai phần hụi này bà B đã hốt xong. Sau khi hốt xong, bà B có đóng lại hụi chết cho bà T đến tháng 10/2022 AL; kể từ tháng 11/2022 thì bà B ngưng không đóng. Do trong thời gian dịch bệnh từ tháng 6 đến tháng 8/2021 AL, bà T ngưng khui hụi nhưng vẫn thu tiền hụi của bà B, số tiền bà B đã đóng cho bà T lúc dịch bệnh là 10.055.000 đồng (gồm dây hụi 03 tháng là 5.000.000 đồng và dây hụi này). Do đó, việc bà T cho rằng bà B còn nợ 05 lần hụi chết chưa đóng và yêu cầu bà B trả số tiền 10.000.000 đồng và lãi suất theo quy định, bà B không thống nhất.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 73/2023/DS-ST, ngày 21 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang đã tuyên xử như sau:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T. Buộc bà Nguyễn Thị B phải trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền còn nợ 10.625.000 (Mười triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn) đồng. Trong đó số tiền nợ hụi là 10.000.000 đồng, tiền lãi phát sinh là 625.000 đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về việc chịu lãi chậm trả, án phí, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án.
Đến ngày 04/01/2024 nguyên đơn bà Nguyễn Thị T có đơn kháng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết, theo hướng: Sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo, với lý do:
- Số tiền nợ và lãi lúc tuyên án là 12.680.000đ, trong quyết định của bản án chỉ có 10.625.000đ, đề nghị sửa lại cho đúng lúc tuyên án; thời gian tính lãi từ ngày 14/11/2022, không phải là tháng 3/2023 AL như trong bản án.
- Yêu cầu bà B trả một lần vào một thời gian cụ thể, trả tại Cơ quan Tòa án hay Cơ quan Thi hành án.
Đến ngày 05/01/2024, bị đơn bà Nguyễn Thị B có đơn kháng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; với lý do: bà B đã trả nợ hụi xong cho bà T.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo.
Bị đơn bà Nguyễn Thị B kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày ý kiến: bà B không đồng ý trả nợ hụi 10.000.000đ và lãi, với lý do: bà B đã trả số tiền hụi một lần, trả chậm một ngày thì bà T tính thêm 10.000đ, việc trả nợ hụi không có giấy tờ, biên nhận gì. Cả hai phần hụi trong dây hụi ngày 04/5/2021 A là do bà B trực tiếp tham gia, con gái bà B không có tham gia.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang trình bày quan điểm:
- Việc chấp hành pháp luật về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án:
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn rút đơn kháng cáo, đề nghị đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh; do đó, kháng cáo của bị đơn không cứ căn cứ để chấp nhận. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục kháng cáo: Vào ngày 21 tháng 12 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang đã ban hành bản án sơ thẩm; đến ngày 04/01/2024 nguyên đơn bà Nguyễn Thị T có đơn kháng cáo và ngày 05/01/2024 bị đơn bà
Nguyễn Thị B có đơn kháng cáo, đơn kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn được làm trong thời hạn theo quy định tại các Điều 271, 272 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; do đó, kháng cáo được coi là hợp lệ và được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T kháng cáo rút lại toàn bộ kháng cáo; do đó, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bà Nguyễn Thị T.
[3] Về nội dung vụ án: Bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị B trả lại số tiền nợ hụi tổng cộng 10.000.000đ, và lãi suất theo quy định của pháp luật tính từ ngày 14/11/2022, cho đến ngày Tòa án xét xử vụ án.
[4] Về yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị B:
[4.1] Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự thừa nhận về thời gian thỏa thuận hụi, số tiền mỗi phần hụi, bà B tham gia hai phần, bà B đã hốt cả hai phần hụi, sau khi hốt hụi bà B đóng hụi chết đến tháng 10/2022 AL. Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự thì các bên đương sự không phải chứng minh; do đó, đã có căn cứ để xác định vào ngày 04/5/2021 AL các bên có thỏa thuận và thực hiện một dây hụi là có thật.
[4.2] Bà B kháng cáo cho rằng không còn nợ hụi của bà T số tiền 10.000.000đ, vì đã trả nợ xong cho bà T, việc trả tiền không có giấy tờ, biên nhận gì, cũng không có ai làm chứng; quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà T cũng không thừa nhận việc bà B có trả số tiền này; như vậy, bà B kháng cáo nhưng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ để chứng minh việc bà B đã trả 10.000.000đ cho bà T; do đó, bà B phải chịu hậu quả của việc không chứng minh; như vậy, coi như sau khi hốt xong hai phần hụi, thì từ tháng A1 (tương ứng tháng A2) bà B không đóng lại hụi chết là vi phạm cam kết, thỏa thuận. Căn cứ Điều 16 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về Họ, hụi, biêu, phường; do đó, việc bà B cho rằng đã trả nợ xong số tiền 10.000.000đ cho bà T, là không có căn cứ để xem xét.
[5] Bà Nguyễn Thị B kháng cáo, như nhận định tại mục [4.2] nêu trên và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đề xuất hướng giải quyết vụ án, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Tòa án; do đó, yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị B là không có căn cứ.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm:
[6.1] Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T được chấp nhận. Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, buộc bà Nguyễn Thị B phải chịu án phí 531.000đ (Năm trăm ba mươi mốt nghìn đồng).
[6.2] Bà Nguyễn Thị T được nhận lại 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004102, ngày 16/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
[7] Về án phí dân sự phúc thẩm:
[7.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Nguyễn Thị T rút đơn kháng cáo; do đó, bà T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng); được trừ vào 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004337, ngày 05/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
[7.2] Sau khi xét xử sơ thẩm; ngày 05/01/2024 bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1958, có đơn xin miễn nộp tiền án phí và tạm ứng án phí, với lý do: người cao tuổi. Căn cứ Điều 2 Luật Người cao tuổi, điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14: Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, nên bà B được miễn án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 5, Điều 293, Điều 148, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Áp dụng Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 4 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14: Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; Điều 16 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về Họ, hụi, biêu, phường.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị B.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 73/2023/DS-ST, ngày 21 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T.
- Buộc bà Nguyễn Thị B phải trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền tổng cộng là 10.625.000đ (Mười triệu sáu trăm hai mươi lăm ngàn đồng; trong đó, số tiền nợ hụi 10.000.000đ, và lãi phát sinh 625.000₫).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Buộc bà Nguyễn Thị B phải chịu 531.000đ (Năm trăm ba mươi mốt nghìn đồng).
- Bà Nguyễn Thị T được nhận lại 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004102, ngày 16/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Hâu Giang.
- Án phí dân sự phúc thẩm:
- Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004337, ngày 05/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Hậu Giang.
- Bà Nguyễn Thị B được miễn án phí.
- Những phần của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (ngày 15/4/2025).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Hùng |
Bản án số 76/2025/DS-PT ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản - hụi
- Số bản án: 76/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản - Hụi
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T có đơn kháng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết, theo hướng: Sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo, với lý do: - Số tiền nợ và lãi lúc tuyên án là 12.680.000đ, trong quyết định của bản án chỉ có 10.625.000đ, đề nghị sửa lại cho đúng lúc tuyên án; thời gian tính lãi từ ngày 14/11/2022, không phải là tháng 3/2023 AL như trong bản án. - Yêu cầu bà B trả một lần vào một thời gian cụ thể, trả tại Cơ quan Tòa án hay Cơ quan Thi hành án Bị đơn bà Nguyễn Thị B có đơn kháng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; với lý do: bà B đã trả nợ hụi xong cho bà T.
