Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2025/HNGĐ-ST

Ngày 21/3/2025

“V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hường
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Đình Đạt
  • Ông Đặng Ngọc Long

- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 21/3/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 346/2024/TLST-HNGĐ ngày 11/12/2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/01/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2025/QĐST-HNGĐ ngày 18/02/2025 giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1993 (xin vắng mặt)
  • Địa chỉ: thôn M, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  • * Bị đơn: Anh Nguyễn Chí H, sinh năm 1988 (vắng mặt)
  • Địa chỉ cư trú cuối cùng của anh H tại Việt Nam: thôn M, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  • Anh H hiện đang ở nước ngoài không rõ địa chỉ.
  • * Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
  • Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1968 (xin vắng mặt)
  • Địa chỉ: thôn M, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai chị Nguyễn Thị L trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Chí H kết hôn với nhau ngày 06/05/2011, việc kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện L. Vì lý do làm ăn kinh tế nên anh chị đã đi xuất khẩu lao động tại nước ngoài, gửi con cho bà nội chăm sóc. Tuy nhiên hiện nay giữa vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống. Mặc dù vợ chồng cùng đi xuất khẩu lao động nhưng không chung sống cùng nhau, mỗi người sống một nơi và đã ly thân với nhau nhiều năm, không quan tâm gì đến nhau nữa. Vợ chồng nhiều năm nay đã không còn liên lạc với nhau. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh Nguyễn Chí H được ly hôn.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Chí H1, sinh ngày 16/12/2011 và cháu Nguyễn Chí V, sinh ngày 14/6/2013. Theo đơn khởi kiện chị đề nghị được nuôi cháu V và giao cháu H1 cho anh H nuôi dưỡng. Tuy nhiên hiện nay các cháu đều có nguyện vọng được ở với bố và bà nội nên chị đề nghị Tòa án giao cả hai cháu cho anh H nuôi dưỡng và tạm giao cho bà Nguyễn Thị T nuôi dưỡng trong thời gian anh H ở nước ngoài. Về cấp dưỡng nuôi con: không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, công nợ chung: không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Bị đơn là anh Nguyễn Chí H hiện đang lao động ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng đối với anh H đến nay không nhận được thông tin của anh H.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T trình bày:

Bà là mẹ đẻ của anh Nguyễn Chí H, anh H hiện đang lao động tại Đài Loan. Bà vẫn thường xuyên liên hệ với anh H qua điện thoại nhưng không biết địa chỉ của anh H ở nước ngoài. Bà đã thông báo cho anh H về việc chị L đề nghị ly hôn thì anh H có ý kiến đồng ý ly hôn. Về con chung thì anh H và chị L có 02 con chung là cháu Nguyễn Chí H1, sinh ngày 16/12/2011 và cháu Nguyễn Chí V, sinh ngày 14/6/2013, các cháu từ nhỏ đều do bà nuôi dưỡng và hiện nay vẫn đang sinh sống cùng bà. Khi ly hôn anh H đề nghị Tòa án giao cả hai cháu cho anh H nuôi dưỡng. Bà là bà nội của các cháu đồng ý nuôi dưỡng các cháu trong thời gian anh H ở nước ngoài. Về việc cấp dưỡng nuôi các cháu không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Cháu Nguyễn Chí H1 và cháu Nguyễn Chí V trình bày hiện nay đang ở cùng bà nội. Nếu bố mẹ ly hôn các cháu có nguyện vọng được ở với bố H và tiếp tục ở cùng bà nội.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, chị L và bà T xin vắng mặt. Anh H vắng mặt không có lý do và không có quan điểm gì trình bày. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L. Xử: Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Nguyễn Chí H. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Chí H1 và cháu Nguyễn Chí V cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng nhưng tạm giao cho bà Nguyễn Thị T nuôi dưỡng trong thời gian anh H ở nước ngoài. Về việc cấp dưỡng không đặt ra xem xét giải quyết. Về tài sản chung và công nợ chung không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị L có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, trách nhiệm nuôi con chung với anh Nguyễn Chí H. Bị đơn anh Nguyễn Chí H có hộ khẩu tại tỉnh Bắc Giang và hiện đang nước ngoài không có địa chỉ cụ thể. Căn cứ công văn số: 30626/QLXNC-P3 ngày 25/12/2024 của Cục Q - Bộ C thì anh Nguyễn Chí H đã xuất cảnh ngày 27/6/2019, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.
  2. [2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa chị L và bà T có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Tòa án đã làm việc với bà Nguyễn Thị T là mẹ đẻ của anh H xác định hiện anh H đang ở nước ngoài nhưng bà không biết địa chỉ cụ thể của anh H ở nước ngoài để cung cấp cho Tòa án. Tòa án đã niêm yết tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho anh H theo quy định tại khoản 5 Điều 177; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự. HĐXX thấy việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng quá trình giải quyết vụ án. Do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
  3. [3]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Chí H kết hôn với nhau ngày 06/05/2011 tại UBND xã Y, huyện L, việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn với anh H. Xem xét đơn khởi kiện của chị L, HĐXX thấy: Đến nay chị L và anh H đã không còn quan tâm gì nhau và không còn liên lạc với nhau nữa. Anh H và chị L đã sống ly thân và chị L xác định không còn tình cảm. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L, xử cho chị L được ly hôn với anh H.
  4. [4]. Về con chung: Chị L và anh H có 02 con chung là cháu Nguyễn Chí H1, sinh ngày 16/12/2011 và cháu Nguyễn Chí V, sinh ngày 14/6/2013, hiện nay các cháu đang ở cùng bà nội là Nguyễn Thị T. Chị L có ý kiến đồng ý giao cả hai cháu cho anh H nuôi dưỡng. Bà T đồng ý nuôi dưỡng cháu H1 và cháu V thay anh H. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi của con chung cần áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cho anh H được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H1 và cháu V nhưng tạm giao cho bà T nuôi dưỡng trong thời gian anh H ở nước ngoài. Về cấp dưỡng nuôi con các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

    Sau khi ly hôn, chị L không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

  5. [5]. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (công nợ): Chị L không đề nghị nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.
  6. [6]. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.
  7. [7]. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 7 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 238; Điều 271; Điều 273, khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Nguyễn Chí H.
  2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Chí H1, sinh ngày 16/12/2011 và cháu Nguyễn Chí V, sinh ngày 14/6/2013 cho anh Nguyễn Chí H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi nhưng tạm giao cho bà Nguyễn Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị L về nước sinh sống hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

    Về việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết.

  3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000270 ngày 11/12/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
  4. Về quyền kháng cáo:
    • - Anh Nguyễn Chí H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
    • - Chị Nguyễn Thị L và bà Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang
  • - UBND xã Yên Sơn, huyện Lục Nam;
  • - Cổng thông tin điện tử TANDTC;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Hoàng Thị Hải Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2025/HNGĐ-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 76/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lam ly hôn Hùng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger