|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 76/2025/DS-PT Ngày: 07-03-2025 V/v “Tranh chấp về quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất và huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Mến
Ông Huỳnh Đắc Đương
Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Duy Quyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 03 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 347/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp về quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất và huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 48/2024/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 17/2025/QĐ-PT ngày 17 tháng 01 năm 2025 và Thông báo về việc tiếp tục phiên tòa số 61/TB-TA ngày 14/02/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Văn Thế M, sinh năm 1969 (Chết).
Địa chỉ: Số 41/7A, Khu phố 2, phường Phú Mỹ, quận 7, thành phố Hồ Chí Minh.
Chỗ ở: Ấp Chòm Chuối, xã Phước Hưng, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Văn Thế M:
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1976 (có mặt);
Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
- Cháu Văn Thị Mỹ A, sinh năm 2015;
Người đại diện hợp pháp của cháu Văn Thị Mỹ A: Bà Trương Thị H1, sinh năm 1978 (Mẹ ruột) (có đơn xin vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
Bị đơn:
- Ông Đặng Văn B, sinh năm 1956 (có mặt);
- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1958 (có mặt);
- Anh Đặng Văn A1, sinh năm 1981 (có mặt);
Cùng địa chỉ: Ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà L là ông Võ Hùng H2 là Luật sư văn phòng L3 thuộc Đoàn luật sư tỉnh T (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ủy ban nhân dân thị xã D (có đơn xin xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: Khóm A, Phường A, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
+ Ông Đặng Văn N, sinh năm 1958 (có mặt);
Địa chỉ: Ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
+ Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1977 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
+ Bà Đặng Thị S, sinh năm 1946 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
+ Bà Hà Thị Trúc L1, sinh năm 1998 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
+ Bà Trương Thị H1, sinh năm 1978 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà Trương Thị H1: Ông Trầm Phú L2, sinh năm 1992 (có mặt);
Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
+ Bà Đặng Thị B1, sinh năm 1964 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
+ Bà Đặng Thị B2 (vắng mặt);
+ Bà Đặng Thị S1 (vắng mặt);
Nơi cư trú cuối cùng của bà B2, bà S1: Ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
+ Bà Huỳnh Thị Thúy K, sinh năm 1984 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
+ Cháu Đặng Thị Mỹ Q, sinh năm 2009;
+ Cháu Đặng Huỳnh Ngọc D, sinh năm 2017;
Người đại diện hợp pháp của Cháu Đặng Thị Mỹ Q và Cháu Đặng Huỳnh Ngọc D: Anh Đặng Văn A1, sinh năm 1981 là cha ruột (có đơn xin xét xử vắng mặt);
+ Ông Đặng Văn T1, sinh năm 1983 (có đơn xin vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
Người kháng cáo: Ông Đặng Văn B, bà Nguyễn Thị L, anh Đặng Văn A1 là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn là ông Văn Thế M và lời trình bày của người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Văn Thế M trong quá trình Toà án giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa như sau:
Vào ngày 23/7/2015, ông Văn Thế M (đã chết năm 2023) và bà Nguyễn Thị T có ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền trên đất với phần đất. Theo đó, quyền sử dụng đất chuyển nhượng có diện tích 1.889,5 m² thuộc thửa 186, tờ bản đồ 21, đất tọa lạc tại ấp A, xã L, thị xã D với giá 220.000.000 đồng, ông M và bà Trương Thị H1 (vợ đã ly hôn của ông M) đã được điều chỉnh trang tư đứng tên quyền sử dụng đất đối với phần đất nói trên. Sau đó ông M và bà H1 tiến hành sang lắp mặt bằng để chuẩn bị cho việc xây dựng nhà ở thì bà Nguyễn Thị L, ông Đặng Văn B, anh Đặng Văn A1 đứng ra ngăn cản trên cơ sở cho rằng trên phần đất này có căn nhà tình nghĩa để thờ cúng bà Huỳnh Thị C (Bà Mẹ Việt Nam anh hùng) là cố nội của anh A1, còn ông B và bà L cho rằng phần đất này bà nội là bà Huỳnh Thị C đã giao lại cho ông B để ông B sử dụng nên không cho ông M sử dụng phần đất này. Vì vậy, ông M khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết như sau: Buộc ông B, bà L phải chấm dứt hành vi ngăn cản việc san lắp mặt bằng trên diện tích 1.889,5m² tại thửa 186, tờ bản đồ số 21; buộc anh Đặng Văn A1 phải di dời tài sản, đồ đạc ra khỏi nhà và giao lại cho ông căn nhà trên đất tại thửa 186 này. Sau đó, trong quá trình Toà án giải quyết, ông M chỉ yêu cầu Toà án giải quyết cho ông được sử dụng ½ diện tích đất tại thửa 186 và ông M đồng ý giao ½ diện tích đất tại thửa 186 có gắn liền với căn nhà tình nghĩa cho hàng thừa kế của bà C. Ông M không yêu cầu bà Nguyễn Thị T phải bồi thường khoản tiền nào cho ông M. Trong quá trình Toà án giải quyết lại vụ án, do ông Văn Thế Minh C1 nên người kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông M là bà Nguyễn Thị H có ý kiến và yêu cầu như sau: Bà H thống nhất yêu cầu của ông M trước đây, cụ thể là yêu cầu được sử dụng diện tích đất là 707,5m² tại thửa 186, tờ bản đồ số 21; đất tại ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh, không thay đổi, bổ sung yêu cầu gì thêm.
Theo lời trình bày của bị đơn ông Đặng Văn B, bà Nguyễn Thị L, anh Đặng Văn A1 trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa như sau:
Ông Đặng Văn B, bà Nguyễn Thị L, anh Đặng Văn A1 đều cho rằng phần đất có diện tích 1.889,5 m² thuộc thửa 186, tờ bản đồ 21, đất tọa lạc tại ấp A, xã L, thị xã D có nguồn gốc của bà Huỳnh Thị C là bà nội của ông B. Vào năm 1995 bà C có cho bà Đặng Thị S là cháu của bà C (bà S kêu bà C bằng dì) phần đất nói trên. Tuy nhiên, ông B cho rằng bà C chỉ cho bà S sử dụng, quản lý phần đất này; có giao điều kiện là khi bà S chết thì bà S phải giao phần đất này cho ông B tiếp tục quản lý, sử dụng. Ông B cho rằng không biết lý do gì vào năm 2010 bà Nguyễn Thị T được Ủy ban nhân dân huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối phần đất diện tích 1.889,5 m² thuộc thửa 186, tờ bản đồ 21, đất tọa lạc tại ấp A, xã L, huyện D, trong khi trên thửa đất này có căn nhà tình nghĩa mà Nhà nước cấp cho bà Huỳnh Thị C.
Đối với bị đơn bà L, anh A1 thì có ý kiến yêu cầu Tòa không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông M. Còn đối với bị đơn ông B không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông M và có yêu cầu phản tố yêu cầu Toà án giải quyết như sau:
- - Huỷ trang tư trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 1.889,5 m² thuộc thửa 186, tờ bản đồ 21, đất tọa lạc tại ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh;
- - Huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị T với ông M, bà H1 diện tích 1.889,5 m² thuộc thửa 186, tờ bản đồ 21; đất tọa lạc tại ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh;
- - Huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Nguyễn Thị T diện tích 1.889,5 m² thuộc thửa 186, tờ bản đồ 21; đất tọa lạc tại ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh;
- - Huỷ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất diện tích 1.780 m² thuộc thửa 434, tờ bản đồ 6, đất tọa lạc tại ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
Ngoài ra, ông B xin rút lại yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất cho ông diện tích 1.889,5 m² thuộc thửa 186, tờ bản đồ 21, đất tọa lạc tại ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập ông Đặng Văn N trình bày: Ông N không đồng ý yêu cầu của ông M. Căn cứ di chúc của bà nội ông là bà Huỳnh Thị C, ông N yêu cầu Tòa án giải quyết:
- - Huỷ T tư trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 1.889,5 m² thuộc thửa 186, tờ bản đồ 21, đất tọa lạc tại ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh;
- - Huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị T với ông M, bà H1 diện tích 1.889,5 m² thuộc thửa 186, tờ bản đồ 21; đất tọa lạc tại ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh;
- - Huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Nguyễn Thị T diện tích 1.889,5 m² thuộc thửa 186, tờ bản đồ 21; đất tọa lạc tại ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh;
- - Huỷ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất diện tích 1.780 m² thuộc thửa 434, tờ bản đồ 6, đất tọa lạc tại ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
Ngoài ra, ông Đặng Văn N xin rút lại yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất cho ông diện tích 1.889,5 m² thuộc thửa 186, tờ bản đồ 21, đất tọa lạc tại ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị H1 trình bày như sau: Bà H1 thống nhất lời trình bày và yêu cầu của ông Văn Thế M lúc còn sống. Cụ thể là bà H1 yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông B, bà L, ông A1 phải giao cho ông Văn Thế M ½ diện tích đất tại thửa 186, còn ½ diện tích đất còn lại tại thửa 186 có căn nhà tình nghĩa thì để lại cho hàng thừa kế của bà C sử dụng vào việc cất nhà thờ cúng Bà Mẹ Việt Nam anh hùng Huỳnh Thị C. Bà H1 không yêu cầu bà Nguyễn Thị T bồi thường khoản tiền nào.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T có lời trình bày như sau: Bà T sống chung với bà Huỳnh Thị C và bà Đặng Thị S từ nhỏ. Bà cố bà (bà C) khi còn sống đã có chia đất cho những người cháu như ông Đặng Văn N, ông Đặng Văn B,...Phần đất ruộng của bà cố bà cũng đã bán cho người khác xong. Bà S là người nuôi và chăm sóc bà cố bà cho đến khi chết. Sau đó, do bà S lớn tuổi nên bà S về sống với bà nên đã làm thủ tục sang tên đất cho bà. Do thấy phía gia đình ông B có ý định muốn chiếm đất của bà nên bà mới bán lại cho ông M. Phần đất này không có liên quan gì đến gia đình ông B, ông N. Vì vậy, bà có ý kiến Toà án xem xét chấp nhận yêu cầu của ông M.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hà Thị Trúc L1 có lời trình bày như sau: Mẹ bà là bà Nguyễn Thị T sống chung với bà Huỳnh Thị C và bà Đặng Thị S từ nhỏ. Bà S là người nuôi và chăm sóc bà C cho đến khi chết. Sau đó, do bà S lớn tuổi nên bà S về sống với mẹ bà nên đã làm thủ tục sang tên đất cho mẹ bà. Việc mẹ bà bán đất cho ông M thì bà biết và đồng ý, không có ý kiến gì. Nay bà không có yêu cầu gì trong vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị S có lời trình bày như sau: Bà sống chung với bà Huỳnh Thị C từ nhỏ. Bà cũng là người chăm sóc bà C cho đến khi bà C chết nên bà và bà C coi như là thành viên trong nhà. Phần đất tranh chấp với gia đình ông B có nguồn gốc là của bà C nhưng thửa đất này bà canh tác chung với bà C từ nhỏ nên coi như là của chung. Vì vậy, bà C mới đồng ý cho bà đứng tên kê khai, đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà đứng tên. Sau khi bà C mất do tuổi cao, sức yếu nên bà có tặng cho đất lại cho cháu là Nguyễn Thị T. Sau đó, cháu bà bán đất lại cho người khác thì bà biết và đồng ý. Vì hiện cháu T đang nuôi bà nên mọi vấn đề có liên quan đất này thì bà giao lại cho cháu T quyết định. Bà không có yêu cầu gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị B1, ông Đặng Văn T1, bà
Huỳnh Thị Thúy K có lời trình bày như sau: Bà Đặng Thị B1, ông Đặng Văn T1, bà Huỳnh Thị Thúy K thống nhất lời trình bày và yêu cầu của ông Đặng Văn B, ông Đặng Văn N.
Đối với bà Đặng Thị B2, Đăng Thị S2 vắng mặt không xác định được nơi cư trú nên không có lời trình bày.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 48/2024/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải đã xét xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Văn Thế M.
Buộc ông Đặng Văn B, bà Nguyễn Thị L, anh Đặng Văn A1, bà Huỳnh Thị Thúy K, ông Đặng Văn T1 là người quản lý, sử dụng đất giao cho người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông M là bà Nguyễn Thị H (vợ ông M) và Văn Thị Mỹ A (con ruột ông M), có người đại diện hợp pháp là bà Trương Thị H1 và bà Trương Thị H1 sử dụng diện tích 707,5m² tại thửa 186, tờ bản đồ số 21; đất tại ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
Riêng tài sản trên đất diện tích 707,5m² tại thửa 186, tờ bản đồ số 21; đất tại ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh là 02 cây duối phi 10, do không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Kích thước, tứ cận phần đất diện tích 707,5m² (ký hiệu A) trong tổng diện tích 1.889,5m² thuộc thửa 186, tờ bản đồ số 21; đất tại ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh thể hiện tại Sơ đồ khu đất của Văn phòng đăng ký đất đai thị xã D (Kèm theo Bản án này).
Công nhận quyền sử dụng đất cho người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông M là bà Nguyễn Thị H (vợ) và Văn Thị Mỹ A, có người đại diện hợp pháp là bà Trương Thị H1 và bà Trương Thị H1 diện tích 707,5m² trong tổng diện tích 1.889,5m² thuộc thửa 186, tờ bản đồ số 21; đất tại ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông M là bà Nguyễn Thị H (vợ) và Văn Thị Mỹ A, có người đại diện hợp pháp là bà Trương Thị H1 và bà Trương Thị H1 được quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện thủ tục cấp quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đối với phần đất được công nhận có diện tích 707,5m² trong tổng diện tích 1.889,5m² thuộc thửa 186, tờ bản đồ số 21; đất tại ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
2. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn ông B và không chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Văn N về yêu cầu Toà án giải quyết gồm:
- - Huỷ T tư (phần xác nhận biến động) trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 1.889,5 m² thuộc thửa 186, tờ bản đồ 21, đất tọa lạc tại ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh;
- Huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị T với ông M, bà H1 diện tích 1.889,5 m² thuộc thửa 186, tờ bản đồ 21; đất tọa lạc tại ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh;
- Huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Nguyễn Thị T diện tích 1.889,5 m² thuộc thửa 186, tờ bản đồ 21; đất tọa lạc tại ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh;
- Huỷ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất diện tích 1.780 m² thuộc thửa 434, tờ bản đồ 6, đất tọa lạc tại ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
3. Ông Đặng Văn B, bà Nguyễn Thị L, anh Đặng Văn A1, bà Huỳnh Thị Thúy K, ông Đặng Văn T1 được tiếp tục quản lý, sử dụng diện tích 1.182,0m² tại thửa 186, tờ bản đồ số 21; đất tại ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh và tài sản gắn liền với đất gồm: 01 nhà tình nghĩa: nhà ở bán kiên cố, mống cột bê tông cốt thép, vách lá, mặt trước xây tường, mái tol có kết cấu gỗ đỡ, nền gạch tàu không trần. Diện tích 57,12m². Giá trị còn lại 10%; Nền lát gạch tàu, có bê tông lót, diện tích 12,48m², giá trị sử dụng còn lại 5%; 01 chuồng bò khung gỗ tạp, vách lá, nền đất, mái tole. Diện tích 20m², giá trị còn lại 30%; 02 cây khế; 01 cây mãng cầu; 04 cây dừa.
Kích thước, tứ cận phần đất diện tích 1.182,0m² (ký hiệu B) trong tổng diện tích 1.889,5m² thuộc thửa 186, tờ bản đồ số 21; đất tại ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh thể hiện tại Sơ đồ khu đất của Văn phòng đăng ký đất đai thị xã D (kèm theo Bản án này).
4. Dành cho hàng thừa kế của bà Huỳnh Thị C quyền khởi kiện yêu cầu phân chia di sản của bà Huỳnh Thị C là quyền sử dụng đất diện tích 1.889,5m² thuộc thửa 186, tờ bản đồ số 21; đất tại ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh trong một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu theo quy định pháp luật.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về đình chỉ yêu cầu độc lập, yêu cầu phản tố, chi phí khảo sát đo đạc định giá, án phí, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 13/9/2024 Ông Đặng Văn B, bà Nguyễn Thị L, anh Đặng Văn A1 kháng cáo yêu cầu sửa Bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì thửa đất là di sản thờ cúng.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ kiện và không cung cấp tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa phúc thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử. Từ khi thụ lý vụ án đến khi quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử phúc thẩm. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đối với đương sự từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Vị Kiểm sát viên phát biểu ý kiến tại phiên toà như sau: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án, nhận thấy việc thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền và quan hệ pháp luật, xác định đầy đủ và đúng tư cách của những người tham gia tố tụng; thu thập chứng cứ theo trình tự, thủ tục, quyết định đưa vụ án ra xét xử và gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng thời hạn; cấp tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Thời hạn chuẩn bị xét xử thực hiện đúng theo Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký tòa án: Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng và đầy đủ về nguyên tắc cơ bản khi giải quyết vụ án, thành phần Hội đồng xét xử và thư ký tòa án không thuộc trường hợp phải từ chối hoặc bị thay đổi theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự .
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án và tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, bà S sống chung với bà C từ năm bà S 13 tuổi cho đến khi bà C chết, cùng với bà C sử dụng diện tích đất nêu trên đến năm 1995 thì hộ bà S được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong hộ bà C chỉ có bà C và bà S như vậy thửa đất 434 là tài sản chung của bà C và bà S, bà S tặng cho bà T toàn bộ diện tích thửa đất trên là không hợp pháp. Và bà C giao hết diện tích đất cho ông B cũng không hợp pháp. Nên án sơ thẩm xét xử là có tình có lý, phù hợp pháp luật. Từ đó đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 không chấp nhận kháng cáo của ông B, bà L, anh A1. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 48/2024/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài
liệu, chứng cứ và quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà L vắng mặt, nhưng bà L đồng ý xét xử vắng mặt người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào pháp luật tiến hành xét xử vắng mặt người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà L.
[2] Đơn kháng cáo của Ông Đặng Văn B, bà Nguyễn Thị L, anh Đặng Văn A1, khi kháng cáo còn trong thời hạn luật định, hình thức và nội dung là hợp lệ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm
Xét kháng cáo của ông Đặng Văn B, bà Nguyễn Thị L, anh Đặng Văn A1 Hội đồng xét xử nhận thấy: Nguồn gốc đất tranh chấp tại thửa 434 hiện nay là thửa 186: Theo lời trình bày và thừa nhận của đương sự trong vụ án thì nguồn gốc thửa đất tranh chấp 434 là của bà Huỳnh Thị C. Do hộ gia đình bà Đặng Thị S gồm có bà Huỳnh Thị C và bà Đặng Thị S trực tiếp canh tác sử dụng từ trước giải phóng năm 1975 cho đến khi bà C chết năm 2001.
Về việc kê khai, đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Đặng Thị S tại thửa 434, tờ bản đồ số 6, diện tích 1.780 m², đất tại ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
[3] Theo tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy, bà S đã đăng ký kê khai thửa đất thửa 434, tờ bản đồ số 6, diện tích 1.780 m² vào năm 1991 và Ủy ban nhân dân huyện D đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Đặng Thị S vào năm 1995 diện tích 1.780 m² thuộc thửa 434, tờ bản đồ số 6. nhưng theo lời khai của các bị đơn và bà Nguyễn Thị T thì tại thời điểm 1995 hộ bà S chỉ có bà S và bà Huỳnh Thị C sống chung ngoài ra không còn ai khác. Như vậy, thời điểm hộ bà S được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1995 cho đến khi bà Huỳnh Thị C chết, bà C không có ý kiến phản đối hay khiếu nại gì đối với việc Ủy ban nhân dân huyện D đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Đặng Thị S. Như vậy, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Ủy ban nhân dân huyện D đã cấp cho hộ bà S là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất chung của hộ bà S. Do đó, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này là hợp pháp. Do đó Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định thửa đất số 434, diện tích 1.780 m² là tài sản chung của bà S và bà C là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Tại Điều 109 Bộ luật dân sự năm 2005 có quy định như sau: “Các thành viên của hộ gia đình chiếm hữu và sử dụng tài sản chung của hộ theo phương thức thoả thuận. Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý; đối với các loại tài sản chung khác phải được đa số thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý”. Từ quy định này cho thấy mặc dù nguồn gốc đất tại thửa 434
là của bà Huỳnh Thị C nhưng thửa đất này đã trở thành tài sản chung của hộ bà Đặng Thị S gồm bà Huỳnh Thị C và bà Đặng Thị S kể từ khi Ủy ban nhân dân huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1995. Bà C và bà S cùng chung sử dụng canh tác rất lâu dài, liên tục và bà C lúc còn sống cũng không có ý kiến gì về việc Ủy ban nhân dân huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà S. Vì vậy, theo quy định bà Đặng Thị S chỉ có quyền tặng cho bà Nguyễn Thị T ½ quyền sử dụng đất tại thửa 434 với diện tích tương ứng là 890m². Nên việc bà S tặng cho bà Nguyễn Thị T toàn bộ diện tích đất tại thửa 434 là vượt quá quyền định đoạt của bà S, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của bà Huỳnh Thị C, theo biên bản họp mặt ngày 14-11-1995 thì bà C có ý nguyện sẽ giao căn nhà tình nghĩa cho ông B, ông N lo việc thờ cúng. Từ đó cấp sơ thẩm xác định việc bà S tặng quyền sử dụng đất có căn nhà tình nghĩa của bà C cũng làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông B, ông N. Trên cơ sở xem xét nguồn gốc hình thành tài sản, công sức giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá trị đất, công phụng dưỡng chăm sóc bà C của bà S, Hội đồng xét xử sơ thẩm giao quyền sử dụng đất cho bà Trương Thị H1 và người kế thừa quyền, nghĩa vụ của ông Văn Thế M là bà Nguyễn Thị H (vợ) và Văn Thị Mỹ A diện tích 707,5m² tại thửa 434 nay là thửa 186. Phần đất còn lại diện tích 1.182,0m² tại thửa 434 và 01 nhà tình nghĩa, cây trồng trên đất cho những người trong hàng thừa kế thứ nhất của bà C quản lý sử dụng là hợp tình, hợp lý, đúng pháp luật do đó việc kháng cáo của ông Đặng Văn B, bà Nguyễn Thị L, anh Đặng Văn A1 là không có căn cứ chấp nhận như quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm đề nghị giữ nguyên án sơ thẩm là có căn cứ.
[5] Về án phí phúc thẩm: Do ông Đặng Văn B, bà Nguyễn Thị L là người trên 60 tuổi nên được miễn án phí, anh Đặng Văn A1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông bị đơn ông Đặng Văn B, bà Nguyễn Thị L, anh Đặng Văn A1.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 128/2024/DS-ST ngày 17 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.
Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 39, Điều 147, 157, 158, 165, 166, 227, 288, 244 Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng Điều 656 Bộ luật dân sự năm 1995; Các Điều 109, 465 Bộ luật dân sự năm 2005; Các Điều 651, 652 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 106 Luật đất đai năm 2003.
Các Điều 12, 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Văn Thế M.
Buộc ông Đặng Văn B, bà Nguyễn Thị L, anh Đặng Văn A1, bà Huỳnh Thị Thúy K, ông Đặng Văn T1 là người quản lý, sử dụng đất giao cho người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông M là bà Nguyễn Thị H (vợ ông M) và Văn Thị Mỹ A (con ruột ông M), có người đại diện hợp pháp là bà Trương Thị H1 và bà Trương Thị H1 sử dụng diện tích 707,5m² tại thửa 186, tờ bản đồ số 21; đất tại ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
Riêng tài sản trên đất diện tích 707,5m² tại thửa 186, tờ bản đồ số 21; đất tại ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh là 02 cây duối phi 10, do không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Kích thước, tứ cận phần đất diện tích 707,5m² (ký hiệu A) trong tổng diện tích 1.889,5m² thuộc thửa 186, tờ bản đồ số 21; đất tại ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh thể hiện tại Sơ đồ khu đất của Văn phòng đăng ký đất đai thị xã D (Kèm theo Bản án này).
Công nhận quyền sử dụng đất cho người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông M là bà Nguyễn Thị H (vợ) và Văn Thị Mỹ A, có người đại diện hợp pháp là bà Trương Thị H1 và bà Trương Thị H1 diện tích 707,5m² trong tổng diện tích 1.889,5m² thuộc thửa 186, tờ bản đồ số 21; đất tại ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông M là bà Nguyễn Thị H (vợ) và Văn Thị Mỹ A, có người đại diện hợp pháp là bà Trương Thị H1 và bà Trương Thị H1 được quyền đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện thủ tục cấp quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đối với phần đất được công nhận có diện tích 707,5m² trong tổng diện tích 1.889,5m² thuộc thửa 186, tờ bản đồ số 21; đất tại ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
2. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn ông B và không chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Văn N về yêu cầu Toà án giải quyết gồm:
- - Huỷ T tư (phần xác nhận biến động) trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 1.889,5 m² thuộc thửa 186, tờ bản đồ 21, đất tọa lạc tại ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh;
- - Huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị T với ông M, bà H1 diện tích 1.889,5 m² thuộc thửa 186, tờ bản đồ 21; đất tọa lạc tại ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh;
- - Huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Nguyễn Thị T diện tích 1.889,5 m² thuộc thửa 186, tờ bản đồ 21; đất tọa lạc tại ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh;
- - Huỷ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất diện tích 1.780 m² thuộc thửa 434, tờ bản đồ 6, đất tọa lạc tại ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
3. Ông Đặng Văn B, bà Nguyễn Thị L, anh Đặng Văn A1, bà Huỳnh Thị Thúy K, ông Đặng Văn T1 được tiếp tục quản lý, sử dụng diện tích 1.182,0m² tại thửa 186, tờ bản đồ số 21; đất tại ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh và tài sản gắn liền với đất gồm: 01 nhà tình nghĩa: nhà ở bán kiên cố, mống cột bê tông cốt thép, vách lá, mặt trước xây tường, mái tol có kết cấu gỗ đỡ, nền gạch tàu không trần. Diện tích 57,12m². Giá trị còn lại 10%; Nền lát gạch tàu, có bê tông lót, diện tích 12,48m², giá trị sử dụng còn lại 5%; 01 chuồng bò khung gỗ tạp, vách lá, nền đất, mái tole. Diện tích 20m², giá trị còn lại 30%; 02 cây khế; 01 cây mãng cầu; 04 cây dừa.
Kích thước, tứ cận phần đất diện tích 1.182,0m² (ký hiệu B) trong tổng diện tích 1.889,5m² thuộc thửa 186, tờ bản đồ số 21; đất tại ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh thể hiện tại Sơ đồ khu đất của Văn phòng đăng ký đất đai thị xã D, tỉnh Trà Vinh (Kèm theo Bản án này).
4. Dành cho hàng thừa kế của bà Huỳnh Thị C quyền khởi kiện yêu cầu phân chia di sản của bà Huỳnh Thị C là quyền sử dụng đất diện tích 1.182,0m² thuộc thửa 186, tờ bản đồ số 21; đất tại ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh trong một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu theo quy định pháp luật.
5. Về án phí phúc thẩm: Miễn án phí phúc thẩm cho ông Đặng Văn B, bà Nguyễn Thị L. Buộc anh Đặng Văn A1 phải chịu là 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0012807 nộp ngày 13/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh, anh A1 đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Văn Mến |
Nguyễn Văn Thành |
|
Huỳnh Đắc Đương |
Bản án số 76/2025/DS-PT ngày 07/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp về quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất và huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 76/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất và huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
