Hệ thống pháp luật

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Hạnh phúc

Độc lập - Tự do -

Bản án số: 76/2024/HS-ST

-

Ngày: 04-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bích Văn Nhiên.

Thẩm phán: Ông Lương Thanh Chín.

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Nhạc, ông Phạm Văn Trịnh và bà Thanh Thị Minh Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dụng Thị Mỹ Ái, là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Quang, Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 12 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 48/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Mang Lăng, sinh năm 1984, tại Bình Thuận; Nơi cư trú: Tổ tự quản số 02, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Rắc Lây; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Mang Đ và bà Đào Thị H; có vợ Đào Thị K và 02 con; Tiền án, tiền sự và nhân thân: Không; Bị bắt, tạm giam ngày 20/5/2024, hiện giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Mang L: Ông Lê Minh T, là Luật sư của Công ty L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh B; địa chỉ 1: A Â, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; địa chỉ 2: I N, xã H, huyện N, thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.

- Bị hại:

  1. Ông Lê Chí H1, sinh năm 1979; nơi cư trú tại: Tổ T, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận; có mặt.
  2. Ông Dương Văn T1, sinh năm 1977; nơi cư trú tại: Thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận; có mặt.
  3. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1981; nơi cư trú tại: Tổ T, thôn D, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận; có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Ông Trần Và K1, sinh năm 1970; vắng mặt.
  2. Bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1961; vắng mặt.
  3. Cùng nơi cư trú: Tổ tự quản số 05, khu V, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

  4. Ông Phạm Đỉnh S, sinh năm 2001; nơi cư trú: Tổ T, khu V, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận; vắng mặt.
  5. Ông Nguyễn Ngọc P, sinh năm 1972; vắng mặt.
  6. Bà Trịnh Thị H2, sinh năm 1987; vắng mặt.
  7. Cùng nơi cư trú: Tổ tự quản số 04, Thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

  8. Bà Đào Thị D, sinh năm 1968; vắng mặt.
  9. Ông Mang P1, sinh năm 1987; có mặt.
  10. Ông Mang S1, sinh năm 1954; vắng mặt.
  11. Cùng nơi cư trú: Tổ tự quản số 02, khu V, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Mang Lăng là cán bộ Nông nghiệp của Ủy ban nhân dân xã P, huyện B và kiêm thêm nhiệm vụ tổ trưởng tổ vay vốn của Ngân hàng N2 (A) chi nhánh huyện B, tỉnh Bình Thuận, từ năm 2007 đến tháng 3/2023 thì nghỉ việc. Trong thời gian là tổ trưởng tổ vay vốn, Mang L làm thêm dịch vụ “Đáo hạn ngân hàng”, tức Mang L đến gặp những người có nguồn tiền mặt để vay, sau đó cho những người dân có nhu cầu vay để đáo hạn ngân hàng vay lại. Do làm dịch vụ này đã lâu, trả tiền đúng hạn và là cán bộ nên khi Mang L hỏi vay tiền với lý do “Đáo hạn ngân hàng” thì được nhiều người tin tưởng cho vay tiền.

Quá trình điều tra xác định, do nợ tiền nhiều người nên từ khoảng tháng 9 năm 2022, Mang Lăng mất khả năng trả nợ và bị các chủ nợ đòi tiền liên tục. Để có tiền trả nợ, Mang L đã nảy sinh ý định dùng thủ đoạn gian dối, đưa ra thông tin giả là có nhiều người cần vay tiền đáo hạn ngân hàng và hứa hẹn trả lãi cao trong thời gian ngắn để lừa đảo chiếm đoạt tiền của nhiều người, cụ thể như sau:

Vụ 1: Vào ngày 10/10/2022, khi Mang Lăng đang dẫn một số hộ dân đi trả tiền lãi tại ngân hàng A chi nhánh L2, huyện B, tỉnh Bình Thuận thì gặp ông Dương Văn T1. Lúc này, Mang L nảy sinh ý định lừa ông T1 nên nói dối với ông T1 rằng cho Mang L vay tiền để trả đáo hạn ngân hàng cho một số hộ dân, thì ông T1 đồng ý. Sáng ngày 11/10/2022, Mang L gọi điện thoại cho ông T1 tiếp tục nói dối cần vay tiền cho 02 hộ dân trả đáo hạn ngân hàng. Ông T1 đồng ý và chuyển khoản từ tài khoản số 4809215037590 Ngân hàng A của ông T1 đến số tài khoản số 4805205094582 Ngân hàng A của Mang Lăng số tiền 330.000.000 đồng (Lần 1 chuyển 100.000.000 đồng, lần 2 chuyển 230.000.000 đồng). Sáng ngày 13/10/2022, Mang L tiếp tục gọi điện thoại cho ông T1 nói dối là còn vài hộ dân cần tiền trả đáo hạn ngân hàng nữa nên muốn vay thêm số tiền 365.000.000 đồng thì ông T1 đồng ý và chuyển khoản từ tài khoản số 4809215037590 Ngân hàng A của ông T1 đến tài khoản số 4805205094582 Ngân hàng A của Mang Lăng số tiền 365.000.000 đồng (Lần 1 chuyển 100.000.000 đồng, lần 2 chuyển 265.000.000 đồng). Hai bên thỏa thuận lãi 0,4%/ngày. Để che giấu việc gian dối của mình và làm cho ông T1 tiếp tục tin tưởng. Ngày 13/10/2022, Mang L đã làm giấy vay tiền với tổng số tiền vay 02 lần ông T1 đã cho vay là 695.000.000 đồng; thời hạn trả tiền là ngày 13/11/2022. Sau khi lấy được tiền của ông T1 thì Mang L đã sử dụng hết để trả nợ cá nhân. Khoảng 01 tháng sau khi hết thời hạn cam kết trả tiền nhưng không thấy Mang Lăng trả tiền, ông T1 liên hệ đòi tiền thì Mang L nói chưa có tiền trả. Ông T1 hỏi Mang Lăng các hộ dân L cho vay trả đáo hạn ngân hàng là ai? Lúc này, để tiếp tục che dấu hành vi gian dối của mình, Mang Lăng in 04 tờ “Phương án sử dụng vốn phục vụ nhu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh” không có thật mang tên của 04 hộ dân là ông Trần Và K1, ông Phạm Đỉnh S, bà Nguyễn Thị C1 và ông Nguyễn Ngọc P đưa cho ông T1, đồng thời viết 01 giấy cam kết trả tiền lần 02 (Ghi ngày 05/12/2022) cam kết sẽ trả số tiền 695.000.000 đồng vào ngày 20/12/2022.

Vụ 2: Sáng ngày 11/11/2022, Mang Lăng gọi điện thoại cho ông Lê Chí H1 nói dối có người cần vay số tiền 80.000.0000 đồng để trả đáo hạn ngân hàng, lãi suất 0,3%/ngày. Vì Mang L đã vay tiền ông H1 trước đó nhiều lần chưa trả nên ông H1 yêu cầu Mang L phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thế chấp và có hợp đồng vay tiền của người dân mới tin tưởng cho vay. Mang L đã lấy 09 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên Trịnh Thị H2 do H2 mang đến để nhờ Mang Lăng làm hồ sơ vay vốn ngân hàng giúp, đồng thời Mang L làm giả hợp đồng vay tiền ngân hàng, ghi tên Trịnh Thị H2, sau đó Mang Lăng tự lăn tay và ký tên H2. Mang L đưa 09 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hợp đồng vay vốn giả đến gặp ông H1, nói dối với ông H1 đây là hợp đồng vay vốn của chị H2. Ông H1 hỏi Mang Lăng người vay tiền đâu, sao không đến? Mang L nói dối là người vay đang ở ngân hàng chờ lấy tiền để trả ngân hàng. Ông H1 nghe Mang L nói vậy và thấy Mang Lăng có thế chấp các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên tin tưởng thông tin L đưa ra là thật. Sau đó, ông H1 sử dụng tài khoản số 4805205090943 Ngân hàng A, chủ tài khoản “Chiên Vinh Kiu” (là vợ ông H1) chuyển 80.000.000 đồng đến tài khoản số 4805205094582 Ngân hàng A của Mang Lăng. Mang L sử dụng toàn bộ số tiền này vào việc trả nợ cá nhân.

Vụ 3: Đầu tháng 10/2022, Mang L đi đến nhà của ông Nguyễn Văn C để mượn tiền. Khi đi, Mang L mang theo 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Mang Đ (Là cha ruột Mang L), Mang H3 (Là anh họ Mang L) và Mang S1 (Là chú ruột Mang Lăng). Nguồn gốc 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này được những người trên đưa cho Mang L để làm thủ tục vay vốn ngân hàng trước đó, nhưng không vay vốn được do giấy chứng minh nhân dân hết hạn hoặc quá tuổi lao động không thuộc diện được vay nên Mang Lăng còn giữ lại chưa trả lại. Tại nhà ông C, Mang L nói cần vay 300.000.000 đồng để làm “Đáo hạn ngân hàng” cho các hộ dân và đưa cho ông C 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên để thế chấp. Ông C nhận 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đưa cho M Lăng vay số tiền 300.000.000 đồng. Hai bên thỏa thuận lãi suất là 0,4%/ngày. Nhận được tiền, Mang Lăng mang về dùng trả nợ cá nhân. Đến ngày 11/10/2022, sau khi đưa ra thông tin gian dối và chiếm đoạt được của ông Dương Văn T1 số tiền 330.000.000 đồng; Mang L đến nhà ông C để chuyển trả số tiền 300.000.000 đồng đã vay ông C trước đó và trả 12.000.000 đồng tiền lãi. Lúc này Mang L nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của ông C để trả nợ cho những người khác nên đưa ra thông tin gian dối là cần vay tiền để đáo hạn ngân hàng và hỏi vay ông C số tiền 450.000.000 đồng. Thấy Mang Lăng trả tiền đúng hẹn nên ông C tưởng thật đồng ý cho Mang L vay số tiền 450.000.000 đồng và ông C vẫn giữ 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Mang Lăng đã thế chấp trước đó. Ông C đưa cho L 120.000.000 đồng tiền mặt, sau đó ông C sử dụng tài khoản số 4805205073632 Ngân hàng A, chủ tài khoản “Tran Thi H4” (Vợ của ông C) chuyển 330.000.000 đồng đến số tài khoản số 4805205094582 Ngân hàng A của Mang Lăng. Sau khi nhận được 450.000.000 đồng, Mang L sử dụng toàn bộ để trả nợ cá nhân.

Vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã trả cho chủ sở hữu 09 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên Trịnh Thị H2; 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên Mang Đ; 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên Mang S1 và Đào Thị N và 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên Mang H3.

Trách nhiệm dân sự: Các bị hại yêu cầu bị cáo mang Lăng phải bồi thường cho ông Lê Chí H1 số tiền 80.000.000 đồng; ông Dương Văn T1 số tiền 695.000.000 đồng và ông Nguyễn Văn C số tiền là 450.000.000 đồng.

Tại Cáo trạng số: 30/CT-VKSBT-P1 ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo Mang L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

  • - Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố tại Cáo trạng và đề nghị:
  • Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt Mang L từ 13 đến 14 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 20/5/2024.

    Biện pháp tư pháp: Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 46 và khoản 1 điều 48 Bộ luật hình sự; Buộc bị cáo Mang L phải khắc phục trả lại cho ông Lê Chí H1 số tiền bị chiếm đoạt 80.000.000 đồng; trả lại cho ông Dương Văn T1 số tiền bị chiếm đoạt 695.000.000 đồng; trả lại cho ông Nguyễn Văn C số tiền bị chiếm đoạt 450.000.000 đồng.

    Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

  • - Luật sư Lê Minh T bào chữa cho bị cáo: Thống nhất quan điểm với Viện kiểm sát về tội danh. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ cho bị cáo ở mức thấp nhất, bởi các lí do sau: Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Mang L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; có thời gian tham gia công tác trong cơ quan Nhà nước; Nguyên nhân dẫn đến bị cáo phạm tội cũng có phần do sự quá dễ dàng trong việc cho vay của bị hại.
  • - Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Về việc vắng mặt những người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ. Xét thấy, việc vắng mặt không ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự khác và không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án, do đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án như ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác là đúng quy định tại khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Xác định tội danh và căn cứ buộc tội:

Tại phiên tòa, bị cáo Mang L khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận truy tố; lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 10/2022 đến tháng 11/2022, M Lăng nợ tiền của nhiều người nên mất khả năng trả nợ. Để có tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân, Mang Lăng đã nhiều lần thực hiện hành vi gian dối để lừa đảo chiếm đoạt 1.225.000.000 đồng. Cụ thể:

Vụ thứ nhất: Vào ngày 10 và 11/10/2022, Mang Lăng nói dối là cần vay tiền trả đáo hạn ngân hàng cho các hộ dân và hứa hẹn trả lãi suất 02%/tháng. Ông Dương Văn T1 tưởng thông tin Mang Lăng đưa ra là thật nên đồng ý cho vay lần thứ nhất 330.000.000 đồng và lần thứ hai 365.000.000 đồng. Hai bên có làm giấy vay tiền 02 lần là 695.000.000 đồng và bị cáo đưa cho ông T1 04 tờ “Phương án sử dụng vốn phục vụ nhu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh”, không có thật mang tên hộ ông Trần Và K1, ông Phạm Đỉnh S, bà Nguyễn Thị C1 và ông Nguyễn Ngọc P.

Vụ thứ hai: Vào ngày 11/10/2022, bị cáo cũng dùng lời nói gian dối là mục đích vay tiền để đáo nợ ngân hàng làm cho ông Nguyễn Văn C tin tưởng và cho Mang L vay số tiền 450.000.000 đồng, với lãi suất hứa hẹn là 0,4%/ngày, đồng thời đưa 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên Mang Đ, Mang Huynh và M thế chấp làm tin.

Vụ thứ ba: Vào ngày 11/11/2022, Mang Lăng tiếp tục dùng lời nói gian dối là vay tiền để đáo nợ ngân hàng và được ông Lê Chí H1 cho vay là 80.000.000 đồng, lãi suất 0,3%/ngày. Mang L đã làm giả hợp đồng cho vay tiền, tên người vay là Trịnh Thị H2 và đưa 09 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên Trịnh Thị H2 cho ông Lê Chí H1.

Với hành vi phạm tội như trên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo Mang L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

[4] Hành vi phạm tội của Mang Lăng đã xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt và để phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Tình tiết tăng nặng: Mang Lăng 03 lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác mà mỗi lần đều cấu thành tội phạm nên thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên”, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự

[6] Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Mang L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Mang L bồi thường cho các bị hại 1.225.000.000 đồng, cụ thể: Ông Lê Chí H1 80.000.000 đồng; ông Dương Văn T1 695.000.000 đồng và ông Nguyễn Văn C 450.000.000 đồng.

[8] Ngoài ra, Mang L còn trực tiếp vay tiền của ông Lê Chí H1, ông Huỳnh Trọng T2, ông Nguyễn Sĩ D1, ông Mang T3, ông Mang Đ1. Các lần vay này được xác định là giao dịch dân sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B hướng dẫn họ khởi kiện dân sự tại Tòa án.

[9] Đối với các trường hợp giao dịch dân sự có thỏa thuận lãi suất giữa Mang Lăng với Lê Chí H1, Nguyễn Văn C, Huỳnh Trọng T2, Nguyễn Sĩ D1, Mang T3, quá trình điều tra xác định, những người này cho Mang L vay tiền với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự (Tức là lãi suất từ 100%/năm trở lên) nhưng số tiền thu lợi bất chính chưa đến 30.000.000 đồng. Các trường hợp này Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B không xử lý trách nhiệm hình sự mà chuyển hồ sơ đến Công an huyện B để xem xét xử phạt vi phạm hành chính do cho vay lãi suất cao vượt quá mức lãi suất quy định của nhà nước, là đúng quy định pháp luật.

[10] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự;
    • - Tuyên bố bị cáo Mang L phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản ".
    • - Xử phạt bị cáo Mang L 13 (Mười ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 20 tháng 5 năm 2024.
  2. Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 357, 468, 584, 585, 586 và 589 Bộ luật Dân sự.

    Buộc bị cáo Mang L bồi thường cho các bị hại ông Lê Chí H1 80.000.000 đồng; ông Dương Văn T1 695.000.000 đồng và ông Nguyễn Văn C 450.000.000 đồng.

    Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (Đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm và 48.750.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và các bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 04/12/2024).

Thành viên hội đồng xét xử

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Bích Văn Nhiên

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • TÒA
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Thuận;
  • - Công an tỉnh Bình Thuận;
  • - Lưu: Hồ sơ và Tổ HCTP.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/HS-ST ngày 04/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 76/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: . Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; - Tuyên bố bị cáo Mang Lăng phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản ". - Xử phạt bị cáo Mang Lăng 13 (Mười ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 20 tháng 5 năm 2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger