TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 76/2024/HSST Ngày: 26/11/2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thiết Hùng, bà Đinh Thị Hân.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Tráng. Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Minh Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2024. Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.
Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 75/2024/HSST, ngày 01 tháng 11 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2024/QĐXXST-HS, ngày 11/11/2024, đối với các bị cáo:
1. Bị cáo: Nguyễn Văn T, sinh ngày 10/6/1965. Nơi cư trú: Xóm X, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Thẻ CCCD: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/10; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nam; con ông: Nguyễn Văn T1 (chết) và bà Phan Thị H (chết); vợ: Nguyễn Thị K, sinh năm 1966; con: Có 04 con, lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 1996; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/6/2024 đến ngày 27/6/2024, có mặt tại phiên toà.
2. Bị cáo: Trần Đình L, sinh ngày 26/9/1989. Nơi cư trú: Thôn H, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Thẻ CCCD: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nam; con ông: Trần Quốc H1 (chết) và bà Hồ Thị N, sinh năm 1959; vợ: Phan Thị H2, sinh năm 1997; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/6/2024 đến ngày 27/6/2024, có mặt tại phiên toà.
3. Bị hại: Công ty cổ phần Đ2. Địa chỉ: Xóm X, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Người đại diện: Ông: Hoàng Đức Q. Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
4.1. Anh; Đậu Trọng S, sinh năm 1981. Địa chỉ: Xóm D, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Có mặt
4.2. Anh; Ngô Minh Đ, sinh năm 1988. Địa chỉ: Xóm M, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt
4.3. Bà; Hồ Thị N, sinh năm 1959. Địa chỉ: Thôn H, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Văn T làm bảo vệ tại công ty cổ phần Đ2 có trụ sở tại xóm B, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, trong quá trình làm việc tại đây Thống thấy tại xưởng sản xuất tinh chế của công ty có nhiều thiết bị máy móc đã hư hỏng nên đã bàn với Trần Đình L trộm cắp đem bán lấy tiền tiêu thì L đồng ý. Đến khoảng 01 giờ ngày 13/6/2024, là ca trực bảo vệ của T nên T đã gọi điện thoại cho L đến công ty để trộm cắp tài sản thì L đồng ý rồi điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu HUYNDAI, biển kiểm soát 29U-4971 đến công ty cổ phần Đ2. Tại đây, T mở cổng rồi cùng L điều khiển xe ô tô đi đến xưởng sản xuất tinh chế của công ty lấy trộm 01 chiếc kìm gắp bằng kim loại của máy gắp gỗ, sơn màu đỏ, không có nhãn mác; 02 chiếc ty bằng kim loại của máy gắp gỗ, sơn màu vàng, không có nhãn mác; 02 chiếc mô tô điện bằng kim loại, sơn màu xám, không có nhãn mác và 01 chiếc kìm gắp bằng kim loại, sơn màu vàng, không có nhãn mác bỏ lên thùng xe ô tô rồi L điều khiển xe ô tô chở các tài sản vừa trộm cắp được đến cất dấu tại một bãi đất trống ở xóm X, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Sau đó, L tiếp tục điều khiển xe ô tô quay lại xưởng sản xuất tinh chế của công ty cổ phần Đ2 lấy trộm thêm 01 chiếc kìm gắp bằng kim loại của máy gắp gỗ chiếc sơn màu vàng, không có nhãn mác; 02 ngăn kéo bằng kim loại của máy múc, sơn màu vàng, không có nhãn mác; 01 chiếc gàu bằng kim loại của máy xúc lật, sơn màu vàng, không có nhãn mác và 01 chiếc mô tô điện bằng kim loại, sơn màu xám, không có nhãn mác bỏ lên ô tô rồi L chở về cất dấu tại bãi đất trống nơi L cất dấu các tài sản đã trộm cắp trước đó, còn T tiếp tục ở lại công ty. Số tài sản trộm cắp được L đã bán cho anh Đậu Trọng S (sinh năm 1981, trú tại xóm D, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An) gồm 01 chiếc kìm gắp bằng kim loại, của máy gắp gỗ sơn màu vàng; 02 ngăn kéo bằng kim loại của máy múc và 01 chiếc gàu bằng kim loại của máy xúc lật; 02 chiếc kìm gắp bằng kim loại của máy gắp gỗ (01 chiếc sơn màu đỏ và 01 chiếc sơn màu vàng); 02 chiếc ty bằng kim loại của máy gắp gỗ với giá 14.400.000 đồng. Sau khi mua các tài sản nói trên thì Đậu Trọng S đã bán cho Ngô Minh Đ (sinh năm 1988, trú tại xóm M, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An) 01 chiếc kìm gắp bằng kim loại, của máy gắp gỗ sơn màu vàng với giá 600.000 đồng. Đến ngày 21/6/2024, nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật Nguyễn Văn T đã đến Công an huyện T đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; cùng ngày Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Trần Đình L.
Ngày 23/66/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Yêu cầu định giá tài sản số 1153 để xác định giá trị tài sản mà T và L trộm cắp được của Công ty cổ phần Đ2. Tại kết luận định giá số 33/KL-ĐG ngày 26/6/2024, Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện T kết luận: “02 chiếc kìm gắp bằng kim loại của máy gắp gỗ (01 chiếc sơn màu đỏ và 01 chiếc sơn màu vàng) không có nhãn mác; 02 chiếc ty bằng kim loại của máy gắp gỗ, sơn màu vàng, không có nhãn mác; 01 chiếc gàu bằng kim loại của máy xúc lật, sơn màu vàng, không có nhãn mác; 02 ngăn kéo bằng kim loại của máy múc, sơn màu vàng, không có nhãn mác; 01 chiếc kìm gắp bằng kim loại, sơn màu vàng, không có nhãn mác; 03 chiếc mô tô điện bằng kim loại, sơn màu xám, không có nhãn mác; không còn giá trị sử dụng, có tổng khối lượng 2.125kg (Hai nghìn một trăm hai mươi lăm kilogam) và có giá trị 17.000.000 đồng (mười bảy triệu đồng).
Tại bản Cáo trạng số 77/CT-VKS-TC ngày 01/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương đã truy tố Nguyễn Văn T và Trần Đình L, về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự;
Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, Điều 173; Điều 17; điểm b, i, s, v khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Văn T, từ 07 tháng đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi. Áp dụng khoản 1, Điều 173; Điều 17; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Trần Đình L, từ 07 tháng đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106; 136 Bộ luật tố tụng hình sự, xử về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
Về vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 xe ô tô tải nhãn hiệu HUYDAI, màu xanh, số khung: KMFXKN7BPXU274673, số máy: D4BBX720387, biển kiểm soát 29U-4791, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, gắn thẻ Sim có số thuê bao 0972059239, đã qua sử dụng. Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty cổ phần Đ2 trình bày: Ngày 13/6/2023, tại xóm B, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, Công ty đã các đối tượng Nguyễn Văn T và Trần Đình L đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 02 chiếc kìm gắp bằng kim loại của máy gắp gỗ (01 chiếc sơn màu đỏ và 01 chiếc sơn màu vàng) không có nhãn mác; 02 chiếc ty bằng kim loại của máy gắp gỗ, sơn màu vàng, không có nhãn mác; 01 chiếc gàu bằng kim loại của máy xúc lật, sơn màu vàng, không có nhãn mác; 02 ngăn kéo bằng kim loại của máy múc, sơn màu vàng, không có nhãn mác; 01 chiếc kìm gắp bằng kim loại, sơn màu vàng, không có nhãn mác; 03 chiếc mô tô điện bằng kim loại, sơn màu xám, không có nhãn mác có tổng giá trị là:17.000.000 đồng (mười bảy triệu đồng); nay Công ty đã nhận lại đầy đủ các tài sản bị mất, nên về trách nhiệm dân sự không có yêu cầu gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Đậu Trọng S trình bày: Chiều ngày 13/6/2024 có người tên L dùng số điện thoại 0792.059.xxx gọi hỏi anh có mua sắt vụ không, anh trả lời có; sau đó L hẹn anh đến cây xăng sát đường mòn H3, thuộc huyện H và đón anh đi đến bãi đất trống sát gần đường mòn, thấy một đống sắt vụn; sau khi thoả thuận thống nhất giá bán là 11.000.000 đồng; đến ngày 19/6/2024 anh mới biết các tài sản trên là do trộm cắp mà có, nên đã giao nộp cho Công an và sau đó phía các bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho anh số tiền đã bỏ ra, nay về trách nhiệm dân sự anh không có yêu cầu gì cả.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Ngô Minh Đ trình bày: Khoảng đầu tháng 6/2024 anh đang ở xưởng cơ khí của mình, thì có anh Đậu Trọng S đến hỏi mi có mua mấy cấy đồ không, sau đó anh xem và mua 01 cái đầu gắp bằng sắt với giá 600.000 đồng; đến ngày 19/6/2024 anh đã đến làm việc với Công an và giao nộp đầu gắp bằng sắt; việc anh mua đầu gắp không biết tài sản do trộm cắp mà có; sau đó anh đã được bồi thường lại số tiền, nên về trách nhiệm dân sự anh không có yêu cầu gì cả.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Hồ Thị N trình bày như sau: Tháng 02/2018 bà có tích góp được một số tiền, do con trai là Trần Đình L muốn mở xưởng sửa chữa, làm lốp ô tô; nên bà đã mua của anh Nguyễn Văn P trú tại xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh 01 chiếc xe ô tô tải nhỏ, nhãn hiệu HUYNDAI màu xanh, biển kiểm soát 29U-4791 đã cũ nát với giá 44.000.000 đồng để cho con trai làm nghề, khi làm thủ tục mua bán lại ghi bên mua là con trai Trần Đình L, để L làm nghề; khi L dùng xe này đi trộm cắp bà không biết, nên bà đề nghị được trả lại chiếc xe này cho bà.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Đình L đều đã hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố của Viện kiểm sát. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai của đại diện hợp pháp bị hại; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với lời khai của người làm chứng; phù hợp với vật chứng thu được; phù hợp với các kết luận định giá tài sản.
Xét về chứng cứ đã có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 13/6/2024, tại xóm B, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Văn T và Trần Đình L lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 02 chiếc kìm gắp bằng kim loại của máy gắp gỗ (01 chiếc sơn màu đỏ và 01 chiếc sơn màu vàng) không có nhãn mác; 02 chiếc ty bằng kim loại của máy gắp gỗ, sơn màu vàng, không có nhãn mác; 01 chiếc gàu bằng kim loại của máy xúc lật, sơn màu vàng, không có nhãn mác; 02 ngăn kéo bằng kim loại của máy múc, sơn màu vàng, không có nhãn mác; 01 chiếc kìm gắp bằng kim loại, sơn màu vàng, không có nhãn mác; 03 chiếc mô tô điện bằng kim loại, sơn màu xám, không có nhãn mác có giá trị: 17.000.000 đồng (mười bảy triệu đồng) của Công ty cổ phần Đ2.
Như vậy đã có đủ cơ sở để khẳng định bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Đình L, phạm tội “Trộm cắp tài sản" như Viện kiểm sát truy tố là đúng.
[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Đình L là nguy hiểm, hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Cho nên cần xét xử nghiêm, mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên xét thấy quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã bồi thường khắc phục hậu quả; Nguyễn Văn T sau khi phạm tội đã đến đầu thú; Nguyễn Văn T là người có công đã được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s, v khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Cho nên cũng cần xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho các bị cáo, để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Xét thấy, đây là vụ án đồng phạm giản đơn; Nguyễn Văn T là người khởi xướng; Trần Đình L là người thực hiện tích cực.
Xét thấy các bị cáo lần đầu phạm tội, có nhiều tình giảm nhẹ, lại có nơi cư trú rõ ràng; cho nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội, mà cho các bị cáo được hưởng án treo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ sức giáo dục và răn đe các bị cáo.
[4] Xét ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
4.1. Xét ý kiến của Công ty cổ phần Đ2: Về trách nhiệm dân sự, Công ty không có ý kiến hay cầu gì, nên Toà án không xem xét.
4.2. Xét ý kiến của anh Đậu Trọng S và anh Trần Minh Đ1: Hai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên Toà án không xem xét.
4.3. Xét ý kiến của bà Hồ Thị N: Việc bà Hồ Thị N cho rằng chiếc xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI màu xanh, biển kiểm soát 29U-4791 là do bà mua cho con trai là không có căn cứ, ngoài lời khai nại ra, bà không có chứng cứ nào chứng minh chiếc xe này là do bà bỏ tiền ra mua; chiếc xe này chưa làm thủ tục sang tên và đăng ký mới, nhưng các giấy tờ mua bán có xác nhận của chính quyền địa phương đều đứng tên người mua là bị cáo Trần Đình L.
Việc bị cáo dùng xe đi trộm cắp tài sản là vi phạm cần tịch thu sung ngân sách; còn sau này bà K1 có quyền khởi kiện yêu cầu bị cáo L thì sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.
[5] Về vật chứng: Trong quá trình điều tra có thu giữ: 01 xe ô tô tải nhãn hiệu HUYNDAI, màu xanh, số khung: KMFXKN7BPXU274673, số máy: D4BBX720387, biển kiểm soát 29U-4791, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, gắn thẻ Sim có số thuê bao 0972059239.
Xét thấy chiếc ô tô HUYNDAI bị cáo L đã sử dụng trong quá trình trộm cắp và vận chuyển tài sản trộm cắp, cho nên cần tịch thu sung nộp ngân sách nhà nước; đối với chiếc điện thoại bị cáo cũng đã dùng vào việc liên lạc trao đổi việc trộm cắp, nên cần tịch thu sung nộp ngân sách nhà nước.
[6] Trong vụ án này còn có Đậu Trọng S là người đã mua các tài sản do T và L trộm cắp mà có. Quá trình điều tra đã chứng minh được khi mua các tài sản đó thì S không biết đó là tài sản do trộm cắp mà có, nên Cơ quan điều tra không tiến hành xử lý đối với S là có căn cứ và đúng pháp luật.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1, Điều 173; Điều 17; điểm b, i, s, v khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự, đối với Nguyễn Văn T. Áp dụng khoản 1, Điều 173; Điều 17; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự, đối với Trần Đình L. Áp dụng Điều 106; 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:
1. Tuyên bố: Bị cáo; Nguyễn Văn T và Trần Đình L, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn T, 08 (tám) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 16 (mười sáu) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
3. Xử phạt bị cáo: Trần Đình L, 08 (tám) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 16 (mười sáu) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
4. Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho UBND xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Giao bị cáo Trần Đình L cho UBND xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
5. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
6. Về vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 xe ô tô tải nhãn hiệu HUYDAI, màu xanh, số khung: KMFXKN7BPXU274673, số máy: D4BBX720387, biển kiểm soát 29U-4791, đã qua sử dụng. 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, gắn thẻ Sim có số thuê bao 0972059239, đã qua sử dụng.
(Chi tiết có tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/11/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều và Chi Cục thi hành án dân sự huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An).
7. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Đình L; mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng ( Hai trăm nghìn đồng ) án phí hình sự sơ thẩm.
8. Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt; có quyền kháng cáo lên Toà án cấp trên trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo lên Toà án cấp trên trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết công khai.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( đã ký) Nguyễn Trọng Sơn |
Bản án số 76/2024/HSST ngày 26/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 76/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Đình L, Nguyễn Văn Th trộm cắp tài sản
