Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRI TÔN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 76/2024/HS-ST

Ngày 22 tháng 11 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN-TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ngọc Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Văn Dũng, bà Chế Thị Hồng Cẩm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Trường, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên tòa: Ông Hồ Thanh Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 74/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Bann Sóc, sinh năm 2000, tại huyện T, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Khóm T, thị trấn C, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: khmer; giới tính: nam; tôn giáo: đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bann Sa Va N, sinh năm 1975 và bà Sóc C, sinh năm 1975; anh em có 03 người, bị cáo là người thứ nhất; chưa có vợ con.

Nhân thân: Ngày 05/7/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, phạm tội khi dưới 18 tuổi.

Tiền án: Ngày 17/01/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 07/12/2022, chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Ngày 21/3/2023, bị Công an thị trấn C, huyện T xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, chưa nộp phạt.

2

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/7/2024 đến đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Chau Q, sinh năm 1980; nơi cư trú: khóm T, thị trấn C, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Néang Cô L, sinh năm 1995; nơi cư trú: khóm T, thị trấn C, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt.

Người làm chứng: Ông Chau Si P, sinh năm 1984, ông Chau Sa Q1, sinh năm 2007, đều vắng mặt.

Người phiên dịch: Ông Kim S, sinh năm 1964; nguyên cán bộ Hội Cựu chiến binh xã C, huyện T, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 20/01/2024, bị cáo Bann S1 ngồi uống nước gần chùa P1, có nhờ Chau Sa Q1 là bạn bè cùng xóm chở đi công việc nhưng Q1 không đồng ý và chạy xe đi, Sóc tức giận lấy 01 cây dao bằng kim loại màu đen (dùng chặt thốt nốt, không thu hồi được) đến ngã ba đường T và đường vào Khu dân cư, thuộc khóm T, thị trấn C, huyện T, lấy 01 ghế nhựa ở sân nhà bà N1 Cô L ra giữa đường ngồi đón Quách trở về. Trong lúc Sóc ngồi đợi thì Chau Q và Chau Si P chạy xe mô tô đến, Q hỏi S1 ở đây làm gì, Sóc nói chờ con ông về, Q lấy điện thoại ra thì Sóc hỏi “Ông lấy điện thoại ra làm gì”, Q trả lời “Tao gọi Công an xuống bắt mày”. Nghe vậy, S1 dùng tay cầm ghế nhựa đánh Q 02 cái theo hướng từ phải qua trái, Q đưa tay trái lên đỡ làm gãy 02 chân ghế, Q dùng chân phải đạp lại Sóc vào đùi, S1 dùng tay phải cầm cây dao chém, đâm Q nhiều nhát vào ngón V bàn tay trái và cánh tay trái gây thương tích, thì được Pôm can ngăn, S1 bỏ về nhà và trên đường S ném bỏ cây dao. Riêng, Q được gia đình đưa đến Trung tâm y tế huyện T điều trị, đến ngày 31/01/2024, Q làm đơn yêu cầu khởi tố hình sự.

Ngoài ra, ngày 12/9/2024, Sóc bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã T, tỉnh An Giang khởi tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Vật chứng thu giữ: 01 cái ghế nhựa màu xanh bị vỡ không còn nguyên vẹn, 01 áo sơ mi cụt tay màu trắng xanh, mặt sau tay áo bên trái có vết rách dài 05 cm.

3

Căn cứ Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 73/24/KLTTCT-TTPY ngày 23/5/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh A, kết luận: Chau Qui tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 07% như sau: Vết thương chưa liền sẹo mặt trước 1/3 giữa cánh tay trái, kích thước (0,7 x 0,3) cm, tỷ lệ 01%; vết thương chưa liền sẹo mặt trước trong 1/3 giữa cánh tay trái, kích thước (0,7 x 0,2) cm, tỷ lệ 01%; vết thương chưa liền sẹo trùng với vết mỗ mặt sau 1/3 giữa cánh tay trái, kích thước (3,5 x 0,4) cm, tỷ lệ 03%; vết thương chưa liền sẹo mặt lòng phía ngoài đốt 2 ngón V bàn tay trái, kích thước (01 x 0,1)cm, tỷ lệ 01%, tất cả đều do vật sắc nhọn gây nên; vết mỗ dẫn lưu mặt sau 1/3 giữa cánh tay trái, kích thước (0,6 x 0,4) cm, tỷ lệ 01%.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Bann S1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với nội dung cáo trạng đã nêu.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận giám định.

Cáo trạng số 76/CT-VKSTT ngày 31 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn truy tố bị cáo Bann S1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bann S1 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, buộc bị cáo bồi thường thiệt hại 2.500.000 đồng cho bị hại Chau Qui. Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu huỷ vật chứng là công cụ phạm tội, không có giá trị, gồm: 01 cái ghế nhựa màu xanh bị vỡ không còn nguyên vẹn, 01 áo sơ mi cụt tay màu trắng xanh, mặt sau tay áo bên trái có vết rách dài 05 cm.

Bị cáo không tranh luận, lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, đồng ý bồi thường trách nhiệm dân sự. Bị hại Chau Q yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 2.500.000 đồng, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

4

[1] Về tố tụng

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo S1 khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận: khoảng 22 giờ ngày 20/01/2024, tại khu dân cư, thuộc khóm T, thị trấn C, huyện T, bị cáo Bann S1 đã có hành vi gây thương tích cho ông Chau Q với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 07%. Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt từ 06 tháng đến 03 năm tù là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Xét chỉ vì nguyên cớ nhỏ nhặt, nhưng do bản tính hung hãn, côn đồ, xem thường pháp luật, bị cáo Bann S1 đã có hành vi dùng hung khí nguy hiểm là ghế nhựa đánh ông Chau Q và dao chém, đâm ông Q nhiều nhát gây thương tích, với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 07%. Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt từ 06 tháng đến 03 năm tù là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

5

Hành vi phạm tội của bị cáo Bann S1 là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của bị hại mà còn ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Xét về nhân thân của bị cáo rất xấu, nhiều lần bị kết án về tội cố ý gây thương tích, bị cáo đang có tiền án chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục tái phạm. Mặt khác, còn đang bị khởi tố về tội danh chiếm đoạt tài sản của người khác trong vụ án khác. Điều này cho thấy, bản thân bị cáo xem thường pháp luật, không biết sửa chữa lỗi lầm. Vì vậy, lần phạm tội này, cần phải áp dụng một chế tài hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo sớm trở thành người công dân có ích, đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, là người dân tộc Khmer và có trình độ học vấn thấp, theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo S1 bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Về trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại: Ông Chau Q yêu cầu bị cáo bồi thường 2.500.000 đồng do bị tổn hại về sức khỏe do bị cáo gây ra là hoàn toàn phù hợp, có căn cứ, nên buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Q số tiền 2.500.000 đồng.

[7] Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu huỷ vật chứng là công cụ phạm tội, không có giá trị, gồm: 01 cái ghế nhựa màu xanh bị vỡ không còn nguyên vẹn, 01 áo sơ mi cụt tay màu trắng xanh, mặt sau tay áo bên trái có vết rách dài 05 cm.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Bann S1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bann S1 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 05/7/2024.

Căn cứ vào Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 cái ghế nhựa màu xanh bị vỡ, 01 áo sơ mi màu trắng xanh, mặt sau tay áo bên trái có vết rách dài 05 cm.

6

(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận ngày 11/11/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T).

Căn cứ Điều 46; Điều 48 Bộ luật hình sự và Điều 584; Điều 589 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Bann S1 bồi thường cho ông Chau Q số tiền 2.500.000₫ (Hai triệu năm trăm ngàn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chậm trả, bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền chậm trả theo mức lãi suất do Ngân hàng N2 quy định tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Căn cứ vào Điều 135; Điều 136, điểm a khoản 1 Điều 23, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí, bị cáo Bann S1 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh An Giang để xét xử theo trình tự phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh AG (1)
  • - Viện KSND tỉnh AG (1);
  • - Viện KSND huyện Tri Tôn (1);
  • - Sở Tư pháp (1);
  • - Nhà Tạm giữ (2);
  • - Phòng hồ sơ (1);
  • - Chi cục THADS huyện Tri Tôn (1);
  • - Bộ phận THA Tòa án (1);
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú (1);
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có QL-NV LQ;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Thị Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN - TỈNH AN GIANG về hình sự về tội cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 76/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN - TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger