Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM DƯƠNG

TỈNH VĨNH PHÚC

Bản án số: 76/2024/HS-ST

Ngày 30-10-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Minh Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Hanh và ông Phùng Quang Minh

- Thư ký phiên toà: Bà Khổng Phương Thùy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Dương

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Vân Anh - Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm lưu động công khai vụ án hình sự thụ lý số 67/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 đối với:

- Bị cáo Trần Ngọc T, sinh năm 1991 tại xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn D, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông không xác định và bà Trần Thị Kim X; vợ; con: Chưa có; tiền án: Có 03 tiền án: Tại Bản án số 73/2014/HSST ngày 26/12/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt bị cáo T 09 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Ngày 30/11/2020, chấp hành xong hình phạt tù, ngày 11/02/2015, chấp hành xong án phí hình sự và án phí dân sự, bị cáo chưa thực hiện bồi thường xong cho các bị hại ( chưa được xóa án tích); Tại Bản án số 38/2022/HSST ngày 23/3/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt bị cáo 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Tại Bản án số 44/2022/HSST ngày 18/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt bị cáo 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt với bản án số 38/2022/HSST ngày 23/3/2022 buộc bị cáo Trần Ngọc T chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 01 năm 09 tháng tù. Ngày 11/12/2023, Trần Ngọc T đã chấp hành xong hình phạt tù và đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm (chưa được xóa án tích); tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 24/5/2012 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc theo Quyết định số 2197/QĐ-CT ngày 24/5/2012 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc trong thời hạn 12 tháng, ngày 02/7/2013 Trần Ngọc T đã chấp hành xong thời gian cai nghiện bắt buộc, bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/7/2024 đến nay, có mặt.

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Thế L, sinh năm 1974, địa chỉ: Thôn T, xã D, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Ngọc T là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2023. Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 15/7/2024, Trần Ngọc T từ nhà ở thôn D, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc đi nhờ xe máy của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ đến thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi đến thành phố V, Trần Ngọc T đi bộ đến khu vực công viên thuộc phường N, thành phố V thì thấy một người đàn ông khoảng 30 tuổi, không biết tên, tuổi địa chỉ có biểu hiện là người nghiện ma túy nên T hỏi mua ma tuý (heroin) của người đàn ông này với số tiền 200.000 đồng. Sau đó, Trần Ngọc T đưa cho người này một tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, người đàn ông cầm tiền và đưa cho T 01 gói nhỏ ma túy được bọc bên ngoài bằng mảnh giấy màu trắng. Trần Ngọc T cầm gói ma túy cất vào trong túi áo bên trái đang mặc rồi đi bộ tìm vẫy xe máy của người đi đường về nhà để sử dụng ma túy. Trên đường về nhà, Trần Ngọc T vào một hiệu thuốc tây ở ven đường (không rõ địa chỉ cụ thể) mua 02 bơm tiêm và 02 lọ nước cất với giá 10.000 đồng để làm công cụ sử dụng ma túy. Sau đó, Trần Ngọc T đi nhờ xe máy của người đi đường về đến đường Đ thuộc địa phận thôn T, xã D, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc thì xuống xe đi bộ vào khu vực nghĩa trang xã D để sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an huyện T kiểm tra, phát hiện. Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói nhỏ được gói bằng mảnh giấy màu trắng, bên trong có chứa chất cục bột màu trắng thu giữ tại túi áo bên trái áo chống nắng T đang mặc, được niêm phong trong bì thư kí hiệu A1; 02 bơm kim tiêm và 02 lọ thủy tinh bên ngoài có chữ NOVOCAIN, bên trong là dung dịch không màu chưa qua sử dụng trong túi áo bên phải, áo chống nắng T đang mặc.

Tại Kết luận giám định số: 2090/KL-KTHS ngày 19/7/2024 của Phòng K - Công an tỉnh V kết luận: “Chất cục bột màu trắng của mẫu ký hiệu Al gửi giám định có khối lượng 0,1844g (không phẩy một tám bốn bốn gam, không kể bao bì) là ma túy, loại Heroine”.

Đối với đối tượng do T khai đã bán ma túy cho T ngày 15/7/2024 (T không biết rõ họ tên, địa chỉ cụ thể của đối tượng này), Cơ quan CSĐT - Công an huyện T đã xác minh nhưng không xác định được đối tượng trên, do đó không có căn cứ để xử lý.

Tại cơ quan điều tra, Trần Ngọc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.

Tại Cáo trạng số 75/CT-VKSTD ngày 09/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố Trần Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên trình bày luận tội đối với bị cáo; giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như Cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Đề nghị áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Ngọc T từ 05 năm 06 tháng đến 05 năm 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tam giam; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định pháp luật. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo không bào chữa, tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, thể hiện: Khoảng 13 giờ 20 phút ngày 15/7/2024, tại khu vực nghĩa trang thôn T, xã D, huyện T, Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang Trần Ngọc T có hành vi tàng trữ trái phép 0,1844gam chất ma túy (heroine) mục đích để sử dụng. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai người làm chứng, người chứng kiến và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập được. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Trước lần phạm tội này, bị cáo đã có 03 tiền án, đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung hình phạt là “Tái phạm nguy hiểm” được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Nội dung điều luật quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine.... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

o) Tái phạm nguy hiểm”

[3] Xét tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Ma tuý là tệ nạn cần phải loại bỏ ra khỏi đời sống xã hội. Ngoài ra, ma túy là nguyên nhân ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tù nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung

[4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện ma túy từ lâu, trước lần phạm tội này bị cáo đã 03 lần bị kết án về các tội cướp giật, trộm cắp tài sản, đã từng bị đưa đi cai nghiện bắt buộc, đáng lẽ ra bị cáo phải lấy đó làm bài học, sau khi chấp hành án trở về địa phương bị cáo phải từ bỏ ma túy, tu dưỡng, rèn luyện bản thân nhưng bị cáo vẫn tiếp tục phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy, cần phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt nghiêm khắc nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội. Tình tiết tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung hình phạt nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về áp dụng hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 0,1035 gam ma túy heroin còn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 02 bơm kim tiêm và 02 lọ thủy tinh bên ngoài có chữ NOVOCAIN, bên trong là dung dịch không màu không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc T 05 (năm) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 15/7/2024).

2. Áp dụng khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ mẫu vật sau giám định do Phòng K Công an tỉnh V hoàn lại, gồm: 0,1035g mẫu cùng toàn bộ bao gói.

Tịch thu tiêu hủy 02 bơm kim tiêm và 02 lọ thủy tinh bên ngoài có chữ NOVOCAIN, bên trong là dung dịch không màu.

(Vật chứng có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/10/2024 giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Dương)

3. Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Ngọc T phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND huyện Tam Dương;
  • - Chi cục THADS huyện Tam Dương;
  • - Công an huyện Tam Dương;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu VP, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Minh Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 76/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Ngọc Th - Tàng trữ trái phép CMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger