|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 76/2024/HSST Ngày: 28-10-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Sơn Thị Hồng Nhân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Triệu
Bà Nguyễn Thị Thúy Liễu
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Khánh Duy, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Như, Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2024/HSST ngày 30 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Văn N
sinh ngày 12/01/1981; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi cư trú: Số C đường B, khu phố D, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Phật; Họ tên cha Trần Sĩ T, sinh năm 1950; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị B, sinh năm 1955 (đã chết); A, chị em ruột: Có 04 người, lớn nhất sinh năm 1972, nhỏ nhất sinh năm 1987; Vợ: Nguyễn Thị Cẩm G, sinh năm 1986. (đã ly hôn); Bị can bị bắt tạm giam từ ngày 01/8/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Trà Vinh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Thạch Thị Đa L, sinh năm 1997 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
Nơi cư trú: Ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2019, Thạch Thị Đa L quen biết và nảy sinh tình cảm với Trần Văn N. Trong thời gian yêu nhau N dùng điện thoại di động S quay lại 19 đoạn video cảnh quan hệ tình dục giữa N và Đa L, các video này được lưu vào bộ nhớ của điện thoại của N. Đồng thời, cũng trong thời gian này khi N và Đa L gọi điện thoại video qua mạng xã hội Z, N dùng điện thoại ghi lại 12 đoạn video cuộc gọi lúc Đa Ly không mặc quần áo, mục đích lưu lại các đoạn video là để N xem.
Sau một thời gian do không còn hợp nhau nên Đa L chia tay với N. Đến tháng 03 năm 2023, Đa L kết hôn với anh Thạch H. Lúc này N tạo các tài khoản Facebook mang tên Daly T, Kẻ L, Thích Thì C đăng tải hình ảnh Đa Ly không mặc quần áo, hình ảnh Đa Ly quan hệ tình dục với N lên mạng xã hội Facebook nhằm mục đích xúc phạm danh dự nhân phẩm của Đa L. Khi có người vào các tài khoản Facebook trên xem, nhắn tin hay bình luận thì N sẽ tiếp tục gửi những hình ảnh, đoạn video không mặc quần áo và cảnh quan hệ tình dục của Đa Ly qua ứng dụng tin nhắn trên Facebook.
Bằng hình thức trên N đã gửi cho Thạch H (chồng của Đa L) có tên F là “Thạch Huân” 01 đoạn video cảnh Đa Ly không mặc quần áo; Kim Thị Sa M sinh năm 1987, nơi cư trú ấp Q, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh có tên F là “Minh Kim” 03 đoạn video cảnh Đa Ly không mặc quần áo và quan hệ tình dục; Thạch Thị Thanh T1, sinh năm 1996, nơi cư trú ấp Q, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh (em chồng của Đa L) có tên F là “Huyền Tuấn N1” 01 đoạn video cảnh Đa Ly không mặc quần áo; Danh Thị Linh Đ, sinh năm 1986, nơi cư trú ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh có tên F là “Linda Danh" 02 đoạn video cảnh Đa Ly không mặc quần áo và quan hệ tình dục; Thạch Thị Sô P, sinh năm 1976, nơi cư trú ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh có tên F là “Thạch Hùng” 01 đoạn video cảnh Đa Ly không mặc quần áo; K, sinh 1976 nơi cư trú ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh có tên F là “Kiên Long” 01 đoạn video cảnh Đa Ly không mặc quần áo; Thạch Thị T2, sinh năm 1997 nơi cư trú ấp Q, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh có tên F là “Trang Thạch” 01 đoạn video cảnh Đa Ly không mặc quần áo; Kim Thị Đ1, sinh 1997, nơi cư trú ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh có tên F là “Đẹp” 03 đoạn video cảnh Đa Ly không mặc quần áo và quan hệ tình dục; Thạch Sết T3 sinh năm 1994 (anh ruột của Đa L), nơi cư trú ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh có tên F là “Sết Tha” nhiều đoạn video cảnh Đa Ly không mặc quần áo và quan hệ tình dục (không xác định cụ thể bao nhiêu đoạn video); gửi cho Facebook “Na Na T4” 03 đoạn video cảnh Đa Ly không mặc quần áo và quan hệ tình dục và Facebook "Ca Soi N2” 02 ảnh Đa Ly không mặc quần áo (không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể của người nhận). Ngày 01/01/2024, Thạch Thị Đa L làm đơn tố cáo N với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C.
Tại Cơ quan Công an Trần Văn N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ của N 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung, tiến hành kiểm tra bên trong điện thoại thu giữ 31 đoạn video quay lại cảnh Thạch Thị Đa L không mặc quần áo và cảnh quan hệ tình dục giữa Đa L và N, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trích xuất lưu vào 04 đĩa DVD để phục vụ công tác điều tra.
Quá trình giải quyết vụ án đến tháng 06 năm 2024, Trần Văn N tiếp tục sử dụng điện thoại di động hiệu OPPO tạo ra các tài khoản Facebook tên “Thạch Thị Daly C1 (Đầu Đất)”, “Thạch Huân”, “Daly Gái X” và “Trà Vinh Gái X” đăng hình ảnh của Thạch Thị Đa L và Thạch H cùng những dòng trạng thái nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm của Đa L. Ngày 01/8/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra thi hành lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Trần Văn N và thu giữ 01 thoại di động hiệu OPPO của N.
Tại cáo trạng số: 69/CT-VKS.HS ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh truy tố bị cáo Trần Văn N về tội “Làm nhục người khác” theo quy định tại điểm a,e khoản 2 Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Bị cáo Trần Văn N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và phân tích, đánh giá các tài liệu, chứng cứ, tình tiết, tính chất của vụ án, nhân thân của bị cáo. Vị đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Trần Văn N phạm tội “Làm nhục người khác”. Áp dụng điểm a, e khoản 2 Điều 155; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Văn N từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 47 Bộ luật Hình sự tịch thu sung quỹ 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG, số sê ri R58KA5HK2AZ; 01 điện thoại di động hiệu OPPO, model CPH2349 của Trần Văn N. Lưu trữ hồ sơ 04 đĩa DVD được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu PS2, mã số PS 055342.
Trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, qua đó đã chứng minh được vì do mâu thuẫn trong chuyện tình cảm với Thạch Thị Đa L nên trong khoảng thời gian từ tháng 3 năm 2023 đến tháng 6 năm 2024, Trần Văn N sử dụng điện thoại di động tạo các tài khoản Facebook mang tên Daly T, Kẻ L, Thích Thì C, Thạch Thị Daly C1 (Đ), Thạch H, Daly Gái X và Trà Vinh Gái Xinh nhiều lần đăng tải và gửi những hình ảnh Đa Ly không mặc quần áo, những đoạn video cảnh Đa L và N quan hệ tình dục lên mạng xã hội Facebook cho nhiều người xem nhằm mục đích xúc phạm danh dự nhân phẩm của Đa L. Xét thấy, diễn biến hành vi phạm tội bị cáo khai nhận phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Văn N đã phạm tội “Làm nhục người khác”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, e khoản 2 Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ của vụ án: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, làm ảnh hưởng đến đạo đức, lối sống, thuần phong mỹ tục, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực để nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng đã nhiều lần đăng tải và gởi cho người khác những hình ảnh nhạy cảm của người khác trên mạng xã hội. Vì vậy, cần áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự để xử phạt nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm đảm bảo răn đe, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo và mang tính phòng ngừa chung. Xét hành vi của bị cáo cần thiết phải đưa ra xét xử nghiêm trước pháp luật, áp dụng một mức hình phạt tù phù hợp với hành vi và mức độ phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để nhằm cải tạo giáo dục trở thành con người có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng giáo dục, phòng ngừa chung trong toàn xã hội, bị hại có đơn yêu cầu tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử đã cân nhắc, xem xét bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó cần giảm nhẹ phần hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật và phù hợp điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
[4] Về vật chứng: Xét thấy các vật chứng mà bị cáo sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội nên cần áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước tịch thu 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG, số sê ri R58KA5HK2AZ; 01 điện thoại di động hiệu OPPO, model CPH2349 của Trần Văn N. 04 đĩa DVD được niêm phong, ký hiệu PS2, mã số PS 055342 là vật chứng lưu giữ những đoạn video nên cần được lưu trữ hồ sơ vụ án.
[5] Về quan điểm và đề nghị của vị kiểm sát viên có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và các bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm a, e khoản 2 Điều 155, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Tuyên bố bị cáo Trần Văn N phạm tội “Làm nhục người khác”.
- Xử phạt bị cáo Trần Văn N 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 01/8/2024.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG, số sê ri R58KA5HK2AZ; 01 điện thoại di động hiệu OPPO, model CPH2349 của Trần Văn N. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28 tháng 10 năm 2024). Lưu trữ hồ sơ vụ án 04 đĩa DVD được niêm phong, ký hiệu PS2, mã số PS 055342.
- Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a, khoản 1, Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí. Buộc bị cáo Trần Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Sơn Thị Hồng Nhân |
Bản án số 76/2024/HSST ngày 28/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH về hình sự (tội làm nhục người khác)
- Số bản án: 76/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Làm nhục người khác)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Văn N phạm tội "Làm nhục người khác", xử phạt 01 năm tù
