Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIM THÀNH

TỈNH HẢI DƯƠNG

Bản án số: 76/2024/HS-ST

Ngày: 25-10-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Hà.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Sao Hôm và ông Nguyễn Văn Giang.

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Quang Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: ông Phạm Trường Giang và bà Nguyễn Thị T - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 75/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Văn T1, sinh năm 1985 tại huyện K, tỉnh Hải Dương.

Nơi cư trú: thôn Q, xã Đ, huyện K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn H và bà Bùi Thị T2 (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị H1 và 2 con

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/6/2024 đến ngày 07/6/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh H từ ngày 07/6/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Bùi Quốc D, sinh năm 1975 (đã chết)

- Người đại diện theo pháp luật của bị hại:

  1. Cụ Nguyễn Thị L, sinh năm 1946 (là mẹ đẻ)
  2. Bà Đỗ Thị H2, sinh năm 1980 (là vợ)
  3. Chị Bùi Thị Kim O, sinh năm 2000 (là con đẻ)
  4. Anh Bùi Quang T3, sinh năm 2002 (là con đẻ)

Người được những người đại diện theo pháp luật của bị hại ủy quyền: anh Bùi Quang T3, sinh năm 2002.

Trú tại: thôn Q, xã Đ, huyện K, tỉnh Hải Dương (Có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo T1: Ông Đặng Văn S và ông Hoàng Ngọc Thanh B - Luật sư của Văn phòng L2 và cộng sự thuộc Đoàn luật sư thành phố H. (ông S vắng mặt, ông B có mặt)

Địa chỉ: số C, ngõ A, T, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội.

- Người làm chứng:Chị Phạm Thị H3, anh Trần Văn L1, ông Phạm Văn H, chị Đỗ Thị T4 (đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Gia đình ông Bùi Quốc D và gia đình bị cáo Phạm Văn T1 là hàng xóm, cổng nhà T1 và cổng nhà ông D ở cùng một hướng, giáp với đường liên thôn và cách nhau khoảng 15 mét. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 31/5/2024, Phạm Văn T1 đang ở nhà thì thấy ông Bùi Quốc D đứng ở cổng nhà ông D chửi bới thô tục gia đình T1. T1 đem chiếc loa kéo ra ngoài hiên và bật nhạc to để át tiếng chửi bới của ông D. Sau đó, T1 tắt nhạc nhưng vẫn nghe thấy tiếng ông D chửi bới nên T1 đi ra ngoài cổng bảo ông D không được chửi bới nữa rồi T1 đi về nhà. Một lát sau, T1 thấy ông D đi ra giữa đường và tiếp tục chửi bới. T1 đi ra và tiếp tục yêu cầu ông D không được chửi. Khi T1 quay về đến gần cổng thì lại nghe thấy tiếng ông D chửi. Lúc này, khoảng 15 giờ cùng ngày, do bực tức vì bị ông D chửi và do buổi trưa có uống rượu nên T1 đã nhặt ở rìa đường chiếc kéo gấp bằng kim loại có chiều dài 12cm, bị gẫy tay cầm bên phải, khi gấp kéo thì kích thước còn lại là 06cm, cầm ở tay trái rồi đi về phía ông D đang đứng. Ông D cũng đi về phía T1. Hai bên lời qua tiếng lại, thách thức đánh nhau. Ông D dùng tay đấm vào ngực T1. T1 dùng tay trái đang cầm kéo, phần mũi kéo nhô ra khỏi bàn tay khoảng 01cm đâm hai nhát vào vùng ngực trái ông D gây rách da. Sau đó, T1 đi về phía nhà mình và đút chiếc kéo vào trong túi quần đang mặc. Ông D bỏ chạy về khu vực cổng nhà mình thì dừng lại và tiếp tục chửi T1. Khi về gần đến cổng nhà mình, nghe thấy ông D chửi, T1 liền quay lại đi nhanh về phía

ông D, đứng đối diện và cách ông D khoảng 50cm. Lúc này, ông D dùng hai tay bóp cổ T1. Trọng luồn hai tay vào bên trong hai tay của ông D, tay trái bám vào vai phải ông D, tay phải bám vào cẳng tay trái ông D rồi đẩy ông D về phía sau, làm ông D bị ngã ngửa, đập đầu xuống nền đường bê tông và nằm bất động. T1 thấy ông D như vậy nên hoảng sợ, đi về nhà mình. Anh Trần Văn L1 là người cùng xóm liền chạy đến thì thấy ông D đang nằm nhắm mắt và thở dốc, phía sau gáy bị chảy máu. Anh L1 đỡ ông D ngồi dậy và nói: “cháu cho chú vào trong nhà nằm nhé”. Thấy ông D gật đầu không nói gì nên anh L1 đi vào mở cổng nhà ông D để đưa ông D vào nhà thì ông D ngồi không vững, ngã ngửa ra đường. T1 nhìn thấy vậy thì đi đến quán nhà ông Phạm Văn Ở cùng thôn ngồi uống nước và đem chiếc kéo đã dùng đâm ông D ném về phía bờ mương gần đó. Ông D bị thương được gia đình đưa đến Trung tâm y tế huyện K và được chuyển lên Bệnh viện đa khoa tỉnh H cấp cứu. Tuy nhiên, do bị chấn thương sọ não nặng, nguy cơ tử vong nên ông D được gia đình đưa về nhà và bị chết vào hồi 23 giờ 50 phút cùng ngày. Khoảng 0 giờ 30 phút ngày 01/6/2024, sau khi nhận được tin ông D chết, T1 đến Công an huyện K đầu thú hành vi phạm tội của mình.

Tại bản Kết luận giám định tử thi số 145/KLGĐTT-KTHS ngày 03/6/2024 và Công văn số 157/CV ngày 08/6/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H kết luận: ông Bùi Quốc D bị vết thương rách da vùng giữa chẩm, bờ mép không gọn còn cầu tổ chức, xung quanh sây sát da sưng nề. Vỡ xương hộp sọ phức tạp; tụ máu dưới màng cứng bán cầu não phải. Não trạng thái phù sung huyết nặng. Sây sát da rải rác vùng đỉnh, xung quanh sưng nề. Bầm tụ máu vùng ngực trái tại vị trí tương ứng xương sườn số VII, VIII trên đường nách trước, giữa vết này có vết thương rách da, kích thước 0,4cm x 0,2cm, sâu sát sụn sườn, không thông khoang ngực; cách vết thương này sang trái 05cm có vết rách da nông theo chiều ngang dài 01cm. Nguyên nhân tử vong: Chấn thương sọ não (vỡ xương hộp sọ phức tạp, tụ máu dưới màng cứng). Cơ chế hình thành thương tích: Vết thương rách da vùng giữa chẩm, bờ mép không gọn còn cầu tổ chức; xung quanh sây sát da sưng nề: tổn thương này do vật tày diện rộng gây nên là phù hợp, khi ông D ngã đập đầu xuống nền bê tông phẳng, nhẵn có thể gây ra được thương tích như trên. Bầm tụ máu vùng ngực trái tại vị trí tương ứng xương sườn số VII, VIII trên đường nách trước: Tổn thương này do vật tày gây nên là phù hợp. Vết thương giữa vết bầm tụ máu này và vết thương rách da nông theo chiều ngang là vết thương phần mềm do vật nhọn gây nên là phù hợp (BL số 69, 70, 72).

Tại Cáo trạng số: 71/CT-VKS ngày 30/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân (viết tắt là VKSND) huyện K, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Phạm Văn T1 về tội

“Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 4 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị HĐXX xem xét về hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính, nuôi bố tàn tật và vợ, con để cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất, sớm có cơ hội trở về gia đình.

Anh T3 trình bày: cụ L, bà H2 và chị O đều không thể có mặt tại phiên tòa nên anh sẽ đại diện những người trên có quan điểm tại phiên tòa. Anh xác định gia đình anh đã nhận đủ số tiền bồi thường, vẫn giữ nguyên ý kiến như trình bày tại quá trình điều tra và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện VKSND huyện Kim Thành giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Trọng phạm T5 “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 134, Điều 38, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử phạt bị cáo T1 từ 6 năm 6 tháng tù đến 7 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 01/6/2024.

Về trách nhiệm dân sự: không đặt ra giải quyết.

Ngoài ra, đại diện VKS còn đề nghị xử lý về vật chứng và án phí đối với bị cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi đại diện VKS trình bày luận tội, người bào chữa cho bị cáo: nhất trí về tội danh, điều luật và những đánh giá về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà VKS trình bày, đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại điểm e khoản 1 Điều 51 của BLHS và cho bị cáo hưởng mức án thấp hơn mức án VKS đề nghị tại phiên tòa.

Tuy nhiên, Kiểm sát viên tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và điều luật áp dụng đối với bị cáo, xác định: Giữa bị cáo và bị hại có mâu thuẫn đã có lời qua tiếng lại, cãi chửi nhau, bị hại có hành vi dùng tay đấm vào ngực bị cáo, hai tay bóp cổ bị cáo, hành vi này chưa trực tiếp xâm hại đến tính mạng của bị cáo để có thể dẫn đến bị cáo không hoàn toàn tự chủ và tự kiềm chế được hành vi phạm tội của mình nên không có căn cứ để xác định hành vi của người bị hại là hành vi trái pháp luật nghiêm trọng làm cho bị cáo bị kích động mạnh

dẫn đến thực hiện hành vi phạm tội nên không có căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm e khoản 1 Điều 51 của BLHS.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, VKSND huyện Kim Thành, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo Phạm Văn T1 tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ ngày 31/5/2024, tại đường bê tông thuộc thôn Q, xã Đ, huyện K, tỉnh Hải Dương, do mâu thuẫn cá nhân, Phạm Văn T1 có hành vi dùng kéo bằng kim loại đâm hai nhát vào vùng ngực ông Bùi Quốc D gây rách da nông. Sau đó, T1 dùng hai tay đẩy ông D làm ông D bị ngã ngửa, phía sau đầu đập xuống nền đường bê tông. Hậu quả: ông D bị chấn thương sọ não (vỡ xương hộp sọ phức tạp, tụ máu dưới màng cứng) được mọi người đưa đi bệnh viện cấp cứu, đến 23 giờ 50 phút cùng ngày bị tử vong.

[3] Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi dùng hai tay đẩy ông D có thể làm ông D bị thương tích nhưng vẫn cố ý thực hiện, gây hậu quả làm ông D bị chấn thương sọ não. Việc ông D chết là ngoài mong muốn của bị cáo. Hành vi trên của bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác nên đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, VKSND huyện Kim Thành truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3.1]. Để có căn cứ áp dụng hình phạt, HĐXX cần đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, đầu thú về hành vi phạm tội, bị cáo đã tác

động gia đình bồi thường 200.000.000 đồng cho bị hại, đại diện bị hại có đề nghị giảm nhẹ hình phạt, bị cáo có thời gian trong quân đội, có bác là liệt sỹ nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[3.2]. Bị cáo T1 xuất thân từ gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bố đẻ bị tàn tật bẩm sinh, mẹ đẻ mất sớm, là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên khi giải quyết mâu thuẫn giữa hàng xóm với nhau, bị cáo không lựa chọn cách xử sự phù hợp nên đã gây ra hậu quả rất nghiêm trọng. Vì vậy, cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Do bị cáo có 2 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên HĐXX sẽ xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.

[3.3]. Đối với ý kiến của người bào chữa của bị cáo tại phiên tòa: HĐXX xét xử xác định bị hại có một phần lỗi, hành vi của bị hại chỉ là lời nói, chửi bới, không phải là hành vi trái pháp luật nghiêm trọng và cũng chưa đến mức độ gây kích động mạnh về tinh thần đối với bị cáo. Vì vậy, không chấp nhận ý kiến của người bào chữa về việc cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm e khoản 1 Điều 51 của BLHS.

[4]. Về trách nhiệm dân sự: bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 200.000.000 đồng. Đại diện theo pháp luật của bị hại đã nhận đủ và không có ý kiến gì khác nên không đặt ra xem xét.

[5]. Về vật chứng: chiếc kéo mà bị cáo T1 đâm ông D là công cụ dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy.

[6]. Về án phí: bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 232 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 134, Điều 38, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Tuyên bố: bị cáo Phạm Văn Trọng phạm T5 "Cố ý gây thương tích".
  2. Xử phạt bị cáo Phạm Văn T1 6 (sáu) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 01/6/2024.
  3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy 1 chiếc kéo gấp bằng kim loại có chiều dài 12 cm, bị gẫy tay cầm bên phải (Đặc điểm cụ thể của vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an huyện K và Chi cục THADS huyện K ngày 03/10/2024)
  4. Về án phí: bị cáo Phạm Văn T1 phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo và đại diện theo pháp luật của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - VKSND huyện Kim Thành;
  • - Cơ quan CSĐT- Công an huyện Kim Thành;
  • - Công an huyện Kim Thành;
  • - Cơ quan THAHS- Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Chi cục THADS huyện Kim Thành;
  • - Bị cáo và người bào chữa;
  • - Đại diện theo pháp luật của bị hại;
  • - Lưu: Tòa án, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/HS-ST ngày 25/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự - cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 76/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Tr cố ý gây thương tích dẫn đến chết người
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger