|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 76/2024/HS-ST Ngày 22-10-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Phạm Thị Khanh
Bà Nguyễn Thị Tâm.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Ly Ly - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến với điểm cầu Trung tâm tại Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng và điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an huyện V, thành phố Hải Phòng đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 74/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Đức P, sinh ngày 14-3-1992 tại H. Nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức K (đã chết) và bà Hoàng Thị N; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 12-6-2024 đến ngày 18-6-2024 chuyển tạm giam đến nay; có mặt.
- Người chứng kiến: Ông Đặng Văn P1; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 10 phút ngày 12 tháng 6 năm 2024, Công an huyện V phối hợp với Công an xã H, tuần tra trên địa bàn khu vực thôn B, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng thì phát hiện 01 nam giới đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 16F9-7350 có biểu hiện nghi vấn phạm tội nên dừng xe tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra đối tượng khai nhận tên là Nguyễn Đức P, tổ công tác phát hiện và thu giữ trong lòng bàn tay trái của P 01 đoạn ống nhựa màu trắng, sọc đỏ được hàn kín 2 đầu, bên trong chứa chất rắn, P khai là ma túy “đá”. Lực lượng Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ số ma túy nêu trên và 01 xe mô tô biển kiểm soát 16F9-7350 do P điều khiển.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Đức P tại Thôn H, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng nhưng không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án
Tại bản kết luận giám định số 749/KL-KTHS ngày 17-6-2024 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận: “Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,23g, loại: Methamphetamine”.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Đức P khai nhận: Khoảng 21 giờ 12 tháng 6 năm 2024, P điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 16F9- 7350 ra khu vực cầu C, thuộc địa phận huyện N, tỉnh Hải Dương để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi P nhìn thấy 01 người nam giới (không rõ căn cước, lai lịch) đang đứng một mình, P đoán người này bán ma túy đá nên hỏi mua 500.000 đồng thì được người nam giới lấy từ túi quần ra 01 đoạn ống nhựa màu trắng, sọc đỏ được hàn kín 02 đầu, Phong cầm đoạn ống nhựa trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô về nhà, khi đi đến khu vực Thôn B, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng thì bị lực lượng Công an dừng xe mô tô kiểm tra, phát hiện và thu giữ vật chứng như nêu trên.
Với các tài liệu, chứng cứ thu thập được, ngày 18-6-2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra Quyết định khởi tố vụ án, Quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Đức P về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng số 73/CT-VKS ngày 30-9-2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Nguyễn Đức P về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Đức P đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu.
Kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội khẳng định việc truy tố Nguyễn Đức P về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Căn cứ vào tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, xử phạt P từ 21 đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 0,17g tinh thể cùng toàn bộ vỏ bao gói của mẫu vật, được niêm phong lại trong một bì giấy, dấu niêm phong số: 749MT/PC09 do cơ quan giám định hoàn lại. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Về tội danh và hình phạt: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, bản kết luận giám định, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 22 giờ 10 phút ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại Thôn B, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Đức P có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,23g ma túy loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự. Bị cáo tàng trữ ma túy là Methamphetamine có khối lượng là 0,23g nên bị cáo bị xét xử với tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo truy tố bị cáo Nguyễn Đức P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
- [3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy, gây mất trật tự trị an, xã hội. Do đó cần phải xử lý nghiêm bị cáo theo pháp luật của Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- [4] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- [5] Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời hạn nhất định mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
- [6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- [7] Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 16F9- 7350 do Nguyễn Đức P mượn của anh Đinh Văn Đ, sinh năm 1987 ở Thôn H, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng. Anh Đ khai: năm 2020 anh Đ mua xe mô tô trên với giá 5.000.000 đồng tại cửa hàng trên địa bàn thị trấn V (không nhớ địa chỉ cụ thể) nhưng chưa làm thủ tục sang tên, đến nay anh Đ làm mất giấy tờ mua bán và đăng ký xe mô tô. Qua tra cứu biển số xe mô tô biển kiểm soát 16F9-7350 chủ xe là ông Vũ Minh T, sinh năm 1945 ở Thôn Đ, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng. Theo xác minh tại xã T và trích lục khai tử thể hiện: Ông T đã chết vào ngày 25-8-2023. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật. Đối với số ma túy thu giữ là vật Nhà nước cấm lưu hành trái phép cần tịch thu tiêu hủy.
- [8] Trong vụ án này còn có người nam giới bán ma túy cho Nguyễn Đức P tại khu vực gần cầu C, thuộc huyện N, tỉnh Hải Dương, hiện chưa xác định được căn cước, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tiếp tục làm rõ, xử lý sau.
- [9] Về án phí: Theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức P 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 12-6-2024.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy 0,17g tinh thể cùng toàn bộ vỏ bao gói của mẫu vật, được niêm phong lại trong một bì giấy, dấu niêm phong số 749MT/PC09 (Vật chứng có đặc điểm như biên bản bàn giao giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội; bị cáo Nguyễn Đức P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thương Huyền |
Bản án số 76/2024/HS-ST ngày 22/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 76/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án hình sự bị cáo Nguyễn Đức Phong về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
