TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 76 /2024/DS-PT
Ngày: 30/9/2024
“ Tranh chấp về thừa kế tài sản”
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Tạ Duy Ước
Các Thẩm phán: ông Bùi Đức Thanh
ông Nguyễn Hồng Ánh
Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hoa Lê - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh: bà Lam Thị Dung - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 69/2024/TLPT-DS ngày 05/9/2024 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản”
Do bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 16/4/2024 của Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2024/QĐ-PT ngày 09/9/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 119A/2024/QĐ-PT ngày 20/9/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: anh Lê Văn C, sinh năm 1990. Trú tại: thôn C, xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Người đại diện theo ủy quyền: bà Trần Thị L. Nơi ĐKHKTT: thôn X, xã T, huyện C, Tp Hà Nội. Địa chỉ liên lạc: Số A, ngõ A N, phường T, quận T, TP Hà Nội. (Theo giấy ủy quyền ngày 21/11/2022).
Bị đơn: chị Lê Thị A- sinh năm 1980. Địa chỉ: thôn C, xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Đức H. Địa chỉ:Tổ F, phường T, quận H, TP Hà Nội.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Bà Trần Thị H1, chị Lê Thị T, anh Lê Văn Q, anh Lê Văn H2, anh Lê Văn H3, anh Lê Văn H4. Cùng địa chỉ: thôn C, xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.
Chị Lê Thị H5. Địa chỉ: thôn B xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của bà H1, chị T, anh Q, anh H2, chị H5, anh H3, anh H4: Ông Lê Đức H. Địa chỉ:Tổ F, phường T, quận H, TP Hà Nội.
* Người kháng cáo nguyên đơn anh Lê Văn C và bị đơn chị Lê Thị A
NỘI DUNG VỤ ÁN
1
Trong đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn anh Lê Văn C và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Anh C là con đẻ của ông Lê Văn C1 và bà Trần Thị Hữu. Ông C1 và bà Hữu S được 08 người con là chị Lê Thị T- sinh năm 1966, anh Lê Văn Q- sinh năm 1968, anh Lê Văn H2- sinh năm 1972, chị Lê Thị H5- sinh năm 1975, anh Lê Văn H3- sinh năm 1978, chị Lê Thị A- sinh năm 1980, anh Lê Văn H4- sinh năm 1983, anh Lê Văn C- sinh năm 1990, ngoài ra không có con đẻ, con nuôi nào khác. Ông C1 chết ngày 01/01/2013, không để lại di chúc. Bố mẹ đẻ của ông C1 là cụ Lê Kỳ N chết năm 1996, cụ Vũ Thị T1 chết năm 1964.
Khi còn sống, vợ chồng ông C1, bà H1 tạo lập được tài sản chung là 450m² đất thuộc thửa 31 tờ 27 bản đồ địa chính năm 2014 tại thôn C xã H, thị xã Q. Nguồn gốc đất do ông C1 bà H1 nhận chuyển nhượng của bà Hoàng Thị H6 vào năm 1998. Bà H6 có đơn xin cấp đất làm nhà ngày 12/10/1991 và được UBND xã H cấp 450m², bà H6 đã nộp tiền vào ngân sách 300.000đồng. Đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là giấy CNQSDĐ), hiện do chị Lê Thị A đang quản lý, sử dụng. Ông C1 không để lại nghĩa vụ về tài sản.
Nay anh C yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật phần di sản của ông C1 trong khối tài sản chung với bà H1 là 225m². Hàng thừa kế thứ nhất của ông C1 gồm bà H1 (vợ) và 08 người con. Anh C đề nghị được nhận phần di sản được chia bằng tiền. Theo anh, trị giá thửa đất là 1.400.000đồng/m² x 225m² = 315.000.000đồng (ba trăm mười lăm triệu đồng). Giá trị phần di sản anh được hưởng là 315.000.000đồng/9 = 35.000.000đồng (ba mươi lăm triệu đồng).
Bị đơn chị Lê Thị A trình bày: Chị A là con đẻ của ông Lê Văn C1 và bà Trần Thị Hữu. Ông bà sinh được 08 người con, ngoài ra ông C1 không có con đẻ, con nuôi nào khác. Ông C1 chết ngày 01/01/2013, không để lại di chúc, không để lại nghĩa vụ về tài sản.
Ông C1, bà H1 có tài sản chung là 01 thửa đất diện tích 450m², là thửa 31 tờ 27 bản đồ địa chính năm 2014 tại thôn C xã H, thị xã Q. Nguồn gốc đất do ông C1 bà H1 nhận chuyển nhượng của bà Hoàng Thị H6 vào năm 1998. Sau khi ông C1 bà H1 nhận chuyển nhượng đất của bà Hoàng Thị H6 thì sử dụng đến năm 2004 tặng cho chị An toàn B diện tích 450m² (tặng cho bằng miệng, không viết giấy tờ, không làm thủ tục tặng cho tại cơ quan có thẩm quyền). Chị A sử dụng đất từ đó đến nay, trồng cây lâu năm. Từ khi được cho đất đến nay, chị A không nộp thuế sử dụng đất.
Chị A nhất trí với nguyên đơn về việc xác định di sản thừa kế của ông C1 là 225m² (= ½ diện tích đất trong khối tài sản chung 450m² đất) với bà H1, nhất trí với nguyên đơn về xác định giá trị 450m² đất là 315.000.000đồng; nhất trí xác định hàng thừa kế thứ nhất của ông Lê Văn C1 là gồm bà H1 và 8 người con, nên 225m² đất được chia thành 9 phần, chị A đề nghị được chia bằng hiện vật (=25m² đất).
Do tất cả các đồng thừa kế là bà Trần Thị H1, chị Lê Thị T, anh Lê Văn Q, anh Lê Văn H2, chị Lê Thị H5, anh Lê Văn H3, anh Lê Văn H4 đều đồng ý tặng cho chị A phần di sản thừa kế được hưởng nên chị A nhất trí nhận phần di
2
sản được tặng cho này. Đối với yêu cầu của nguyên đơn anh Lê Văn C yêu cầu được chia bằng tiền là 35.000.000đồng, chị A đồng ý nhưng xin được trả dần vì hoàn cảnh khó khăn.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị H1 trình bày:
Bà Trần Thị H1 và ông Lê Văn C1 kết hôn năm 1965, có đăng ký kết hôn nhưng bị thất lạc giấy đăng ký. Ông bà sinh được 08 người con, ngoài ra ông C1 không có con đẻ, con nuôi nào khác. Ông C1 chết ngày 01/01/2013, không để lại di chúc. Bố mẹ đẻ của ông C1 là cụ Lê Kỳ N chết năm 1996, cụ Vũ Thị T1 chết năm 1964.
Bà H1 nhất trí với nguyên đơn về xác định di sản của ông C1 là 225m² đất trong khối tài sản chung của ông bà tại thôn C xã H, nhất trí về nguồn gốc đất. Đồng thời xác nhận, sau khi nhận chuyển nhượng đất của bà H6, ông bà C1, H1 sử dụng đến năm 2004 thì tặng cho con gái là Lê Thị A (không viết giấy tờ tặng cho). Chị A sử dụng cho đến nay. Quá trình sử dụng đất ông C1, bà H1 có nộp thuế sử dụng đất thời kỳ đầu nhưng không còn giữ biên lai.
Nay anh Lê Văn C yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản của ông C1, bà H1 đồng ý với yêu cầu của anh C, nhất trí về xác định hàng thừa kế, nhất trí về giá trị thửa đất là 1.400.000đồng/m², bà H1 đồng ý nhận phần di sản được chia bằng hiện vật và tặng cho chị Lê Thị A. Đồng thời tặng cho chị An toàn B phần tài sản của bà trong khối tài sản chung với ông Lê Văn C1 (là 225m² đất).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị T, anh Lê Văn Q, anh Lê Văn H2, chị Lê Thị H5, anh Lê Văn H3, anh Lê Văn H4 trình bày: Nhất trí với nguyên đơn về xác định di sản thừa kế, giá trị của di sản, nhất trí về xác định hàng thừa kế. Nếu được chia thì các anh chị đồng ý nhận phần thừa kế bằng hiện vật (mỗi người 25m² đất) và đều tặng cho chị Lê Thị A.
Kết quả xác minh tại UBND xã H: Thửa đất số 31 tờ 27 bản đồ địa chính năm 2014, trước đây là thửa 93, 94 tờ P10 bản đồ địa chính năm 1996.Theo sổ mục kê ruộng đất năm 1995, bản đồ địa chính năm 1995 của UBND xã H, thửa 93, 94 tờ P10 do UBND xã quản lý, trong đó thửa 93 diện tích 395m², thửa 94 diện tích 555m², loại đất là đất lúa. Quá trình sử dụng đất từ năm 1995 đến năm 2013 thể hiện trong sổ mục kê là UBND xã quản lý.Theo sổ mục kê ruộng đất năm 2014, bản đồ địa chính năm 2014 tên chủ sử dụng Lê Thị A, diện tích 877,8m², loại đất là đất lúa.
Các tài liệu về quản lý đất đai hiện UBND xã H đang lưu trữ không có tên bà Hoàng Thị H6, ông Lê Văn C1 và bà Trần Thị H1 đứng tên chủ sử dụng đất đối với thửa 31 tờ 27 tương ứng thửa cũ 93, 94 tờ P10. Thửa đất này không đủ điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Trần Thị Hữu . Việc sử dụng đất của chị Lê Thị A đối với thửa 31 tờ 27 tại thôn C xã H là không đúng mục đích, tự ý chuyển mục đích sử dụng đất từ đất lúa sang đất trồng cây lâu năm. Việc xác định ranh giới, mốc giới thửa đất theo chỉ dẫn của chị A tại buổi xem xét thẩm định là chưa chính xác vì chưa xác định được ranh giới, mốc giới của các hộ liền kề.
3
Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 16/01/2024 của TAND thị xã Quảng Yên thể hiện: Theo chỉ dẫn của chị Lê Thị A, thửa đất chị A hiện đang quản lý, sử dụng là thửa 31 tờ 27 bản đồ địa chính năm 2014, diện tích đo đạc theo chỉ dẫn là 829,3m², trên đất trồng dừa, chuối, xoài từ năm 2020. Trong đó, diện tích thửa 31 là 678,6m²; diện tích thuộc đất giao thông thửa 20 là 96,8m²; diện tích thuộc thửa 55 là 8m², diện tích thuộc thửa 42 là 45,9m². Liền kề thửa 31 là thửa 42, diện tích 520,3m² hiện chị A đang sử dụng, chưa được cấp giấy CNQSDĐ.
Đối với kết quả đo vẽ tại buổi xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án: Các đương sự nhất trí về vị trí, song theo anh Lê Văn C, chị Lê Thị A và bà Trần Thị H1, diện tích đất là tài sản chung của ông C1, bà H1 là 450m² trong số 829,3m², trong đó, chiều dài tương ứng các cạnh thửa đất là (30 x15)m, cụ thể: chiều bám mặt đường từ điểm số 3 đến điểm số 8 là 15m; chiều còn lại từ điểm số 3 đến điểm số 4 là 30m. (Theo sơ đồ đo vẽ ngày 16/01/2024). Diện tích còn lại của thửa đất do chị A khai hoang thêm.
Các đương sự nhất giá trị 225m² đất của ông Lê Văn C1 là 315.000.000đồng (ba trăm mười lăm triệu đồng, tương đương 1.400.000đồng/m²).
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 16/4/2024 của Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên tuyên xử: Bác yêu khởi kiện của anh Lê Văn C về yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản của ông Lê Văn C1 là 225m² đất thuộc thửa số 31 tờ 27 tại thôn C xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 22/4/2024 nguyên đơn anh Lê Văn C và bị đơn chị Lê Thị A có đơn kháng cáo đối với bản án dân sự sơ thẩm
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị hủy bản án sơ thẩm do chưa có đủ người tham gia tố tụng và chưa đủ tài liệu chứng cứ để giải quyết nội dung vụ án; bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo;
Tranh luận: các đương sự trình bày quan điểm để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình như đã trình bày tại phiên toà.
Đại diện viện kiểm sát có quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm: Về tố tụng, đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;
Về nội dung: cần thiết phải thu thập tài liệu chứng cứ liên quan đến nguồn gốc thửa đất mà nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế và bổ sung người tham gia tố tụng để giải quyết toàn diện nội dung vụ án. Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 3 Điều 308, huỷ bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ về cấp sơ thẩm giải quyết theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của nguyên đơn anh Lê Văn C và bị đơn chị Lê Thị A được thực hiện đúng trình tự, thủ tục và trong hạn luật định nên Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét lại bản án sơ thẩm theo trình tự phúc thẩm.
4
Về người tham gia tố tụng : căn cứ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án chưa có căn cứ xác minh nguồn gốc thửa đất đang có tranh chấp, TAND thị xã Quảng Yên không đưa UBND xã H là cơ quan quản lý đất đai ở địa phương vào tham gia với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án là thiếu sót. TAND tỉnh đã khắc phục nội dung này, bổ sung người tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án đối với UBND xã H.
[2] Về nội dung yêu cầu khởi kiện và nội dung kháng cáo xét thấy:
Về hàng thừa kế: ông Lê Văn C1 và bà Trần Thị H1 kết hôn với nhau năm 1965, nhưng không cung cấp được đăng ký kết hôn. Theo Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH 10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội thì quan hệ hôn nhân giữa ông C1, bà H1 được xác lập trước ngày 03/01/1987 nên được pháp luật công nhận. Ông C1, bà H1 có 08 con chung là chị Lê Thị T, anh Lê Văn Q, anh Lê Văn H2, chị Lê Thị H5, anh Lê Văn H3, chị Lê Thị A, anh Lê Văn H4, anh Lê Văn C. Tại thời điểm ông C1 chết 01/01/2013, bố mẹ đẻ ông C1 là cụ Lê Kỳ N chết năm 1996, cụ Vũ Thị T1 chết năm 1964. Ông C1 không có bố mẹ nuôi, không có con đẻ, con nuôi nào khác.
Vì vậy, xác định hàng thừa kế thứ nhất của ông Lê Văn C1 gồm 9 người là: bà Trần Thị H1, chị Lê Thị T, anh Lê Văn Q, anh Lê Văn H2, chị Lê Thị H5, anh Lê Văn H3, chị Lê Thị A, anh Lê Văn H4, anh Lê Văn C.
-Về nguồn gốc di sản thừa kế: bà Trần Thị H1 và các con của bà H1 đều xác định: nguồn gốc thửa đất đang có tranh chấp là năm 1991, bà Hoàng Thị H6 có đơn xin cấp đất làm nhà và được UBND xã H chấp thuận, xác nhận cấp cho diện tích diện tích 450m² đất thuộc thửa 31 tờ 27 tại thôn C xã H, thị xã Q. Năm 1999, bà H6 chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất trên cho vợ chồng ông C1, bà H1 nên đây là tài sản chung của ông C1 và bà H1. Do đó, các đồng thừa kế đều đề nghị xác định di sản của ông Lê Văn C1 là ½ diện tích đất = 225m².
Căn cứ sổ mục kê, bản đồ địa chính thể hiện thửa đất năm 1995 đứng tên người sử dụng đất là UBND xã là đất trồng lúa và sổ mục kê và bản đồ địa chính năm 2013 thể hiện người sử dụng đất là nguyên đơn thuộc thửa 31 tờ 27 Bản đồ địa chính năm 2014, tương ứng với thửa 93, 94 tờ P10 Bản đồ địa chính năm 1995 tại thôn C xã H, thị xã Q. Đất chưa được cấp giấy CNQSDĐ, hiện do chị Lê Thị A đang sử dụng trồng cây lâu năm. Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thể hiện diện tích thửa đất là 829,3m² song các đương sự đều thống nhất xác định diện tích đất của ông bà C1, H1 là 450m², còn lại do chị A khai hoang thêm, và thống nhất xác định yêu cầu chia thừa kế đối với 225m² đất trong tổng số 450m² đất là tài sản chung của ông bà C1, H1.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án cấp sơ thẩm đã có văn bản đề nghị UBND xã H cung cấp thông tin nguồn gốc, quá trình sử dụng đối với thửa đất đang có tranh chấp. Tuy nhiên UBND xã H đã cung cấp thông tin chưa đầy đủ, đương sự cũng không cung cấp được các tài liệu chứng minh cho nguồn gốc sử dụng đất của ông C1 và bà H1; từ đó toà án cấp sơ thẩm xác định chưa có cơ sở xác định thửa đất số 31 tờ bản đồ 27 chính là thửa đất được UBND xã H cấp cho bà H6 năm 1991 theo đơn xin cấp đất làm nhà của bà. Do đương sự chưa cung
5
cấp chứng cứ chứng minh đầy đủ và UBND xã cung cấp thông tin về thửa đất nên cấp sơ thẩm đã không chấp nhận yêu cầu khởi kiện.
Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn cung cấp các biên bản làm việc ngày 04/7/2024 “về xác minh việc xác nhận đơn xin đất làm nhà của bà Hoàng Thị H6 tại khu X, xã H”; biên bản làm việc ngày 04/7/2024 “vv xác minh thửa đất của ông Lê Văn T2 thôn 2 xã H được UBND xã H cấp đất tại khu X xã H”; biên bản làm việc ngày 04/7/2024 vv xác minh nguồn gốc, quá trình sử dụng đất tại 1 phần thửa đất số 31, tờ bản đồ số 27 bản đồ hiện trạng đo năm 2014 (tương ứng thửa đất số 93+94 tờ bản đồ P10 bản đồ địa chính đo năm 1995) tại thôn C xã H) và UBND xã H đã cung cấp văn bản ngày 17/9/2024 thể hiện nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp nằm trong một phần thửa đất số 31 tờ bản đồ số 27 bản đồ đo hiện trạng năm 2014 được đăng ký tạm thời trong sổ mục kê tên bà Lê Thị A. Các tài liệu thể hiện: thời điểm 1991 UBND xã H có cấp cho bà Hoàng Thị H6 một mảnh đất có chiều bám mặt đường là 15m, chiều sâu là 30m diện tích 450m² tại khu vực ngoài Máng phía nam đường ông T3, không có thời điểm xác nhận mà chỉ có ngày tháng năm của người xin cấp đất là 12/10/91. Sau đó, bà H6 đã chuyển nhượng thửa đất trên cho ông Lê Văn C1 có xác nhận của chủ tịch UBND xã ký xác nhận nhưng cũng không có ngày tháng năm. Hiện tại không xác định được thời điểm giao đất và thời điểm chuyển nhượng đối với thửa đất trên giữa bà H6 và ông C1. Hiện tại UBND xã cũng không xác định được vị trí ranh giới của thửa đất đang có tranh chấp; Ngoài ra, năm 1994 UBND xã H cũng đã cấp cho ông Lê Văn T2 1 thửa đất có chiều bám mặt đường là 15m, chiều sâu là 30m diện tích 450m² được chủ tịch xã thời điểm đó xác nhận, có vị trí thuộc 1 phần thửa đất số 31 thửa 27 tờ bản đồ hiện trạng đo năm 2014 và hiện tại ông T2 cũng chưa xác định được vị trí thửa đất của ông T2 được cấp ở đâu và giáp ranh với ai. Đến thời điểm hiện tại UBND xã H cũng chưa xác định được rõ ranh giới thửa đất, vị trí chính xác của thửa đất đã cấp cho bà H6 và ông T2. Tại biên bản xác minh ngày 21/02/2024 của TAND thị xã Quảng Yên thị đại diện UBND xã H cũng xác định sơ đồ đo vẽ của Toà án chưa phản ánh chính xác ranh giới, mốc giới của thửa 31 tờ bản đồ 27 vì chưa xác định ranh giới mốc giới với các thửa liền kề.
Do đây là các tình tiết phát sinh tại cấp phúc thẩm, nên để có căn cứ giải quyết triệt để nội dung vụ án, để đảm bảo quyền lợi của các đương sự cần phải đưa ông Lê Văn T2 và những người có liên quan đến thửa đất vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án, thu thập các tài liệu chứng cứ chứng minh nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất ông C1 sử dụng đất từ khi nào quá trình sử dụng thửa đất có thay đổi về ranh giới hay không sử dụng phần đất của ông T2 được cấp hay không và sử dụng từ khi nào (nếu có), xem xét thẩm định xác định vị trí thửa đất đang có tranh chấp để xác định diện tích đất của bà H6 chuyển nhượng cho C1 cũng như vị trí đất ông T2 được cấp. Đây là những chứng cứ mà cấp phúc thẩm không bổ sung được nên cần thiết phải huỷ bản án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án cho cấp sơ thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật.
6
Các nội dung kháng cáo khác của đương sự kháng cáo do bản án bị huỷ vì chưa đủ chứng cứ nên sẽ được giải quyết khi vụ án được giải quyết theo thủ tục sơ thẩm trên cơ sở chứng cứ của vụ án.
[3] Về án phí: do kháng cáo được chấp nhận nên nguyên đơn anh Lê Văn C và bị đơn chị Lê Thị A không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Về án phí sơ thẩm được giải quyết theo quy định khi vụ án được giải quyết theo trình tự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 308, khoản 1 Điều 310; Điều 313, khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng Dân sự, chấp nhận một phần nguyên đơn anh Lê Văn C và bị đơn chị Lê Thị A. Huỷ bản án sơ thẩm.
Tuyên xử: Huỷ toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 18/2024/DS-ST ngày 16/4/2024 của Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên. Chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên tỉnh Quảng Ninh giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Án phí: nguyên đơn anh Lê Văn C và bị đơn chị Lê Thị A không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Trả lại nguyên đơn anh Lê Văn C số tiền 300.000đ ( ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0003873 ngày 08/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên tỉnh Quảng Ninh.
Trả lại bị đơn chị Lê Thị A số tiền 300.000đ ( ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0003874 ngày 08/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên tỉnh Quảng Ninh.
Về án phí sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác sẽ được xác định khi giải quyết sơ thẩm lại vụ án
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Duy Ước |
7
8
Bản án số 76/2024/DS-PT ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Số bản án: 76/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỷ bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục
