|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP.PHAN RANG-THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN Bản án số: 76/2024/DS-ST Ngày: 18 - 9 - 2024 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Út
Ông Trần Hoàng Liên
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Trang –Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang -Tháp Chàm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phan Rang - T xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 167/2024/TLST-DS ngày 24 tháng 4 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2024/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Hồng L, sinh năm 1990
Địa chỉ: Khu phố D, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Lê Thị N, sinh năm 1957
Địa chỉ: Khu phố D, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
- Bị đơn: Bà Lê Thị N1, sinh năm 1960
Nơi cư trú: Khu phố E, phường Đ, thành phố P T, tỉnh Ninh Thuận.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố E, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
Bà Lê Thị N, bà Lê Thị N1 có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Lê Thị N trình bày:
Ngày 27/7/2020, bà Phạm Thị Hồng L có cho bà Lê Thị N1 vay tiền 40.000.000 đồng, hai bên có ký kết Hợp đồng cho vay. Theo hợp đồng, thời hạn cho vay từ ngày 27/7/2020 đến ngày 26/4/2021; Lãi suất cho vay ghi trong hợp đồng không quá quy định của nhà nước và sẽ được điều chỉnh theo thỏa thuận giữa hai bên tùy theo tình hình biến động của lãi suất thị trường. Thực tế, bà L, bà N1 thoả thuận bằng miệng lãi suất là 3%/ tháng nhưng từ khi vay đến nay bà N1 chưa thanh toán tiền lãi và gốc.
Tại đơn khởi kiện bà L yêu cầu bà N1 phải trả số tiền 40.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi với lãi suất 1,5%/tháng cho đến khi trả hết dứt nợ vay.
Đối với ý kiến về việc bà N1 cho rằng đã trả 10.000.000 đồng tiền gốc vào tháng 7 năm 2021 thì bà không đồng ý vì đây là số tiền bà N1 trả tiền nợ huê của bà L. Do trong biên nhận chuyển khoản không ghi rõ nội dung gì nên bà không đồng ý trừ 10.000.000 đồng tiền chuyển khoản của bà N1 vào tiền nợ gốc trong khoản vay này.
Tại phiên hòa giải ngày 30/7/2024, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị bà Lê Thị N1 trả 40.000.000 đồng tiền gốc theo hợp đồng vay ngày 27/7/2020 và tiền lãi từ ngày vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc với lãi suất 1,5%/ tháng.
Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đồng ý trừ 10.000.000 đồng bà Lê Thị N1 đã trả tại thời điểm ngày 08/7/2021 vào nợ gốc trong khoản vay này, đề nghị Tòa án giải quyết các yêu cầu sau:
1. Buộc bà Lê Thị N1 trả cho bà Phạm Thị Hồng L số tiền vay gốc còn nợ là 30.000.000 đồng.
2. Buộc bà Lê Thị N1 trả lãi cho bà Phạm Thị Hồng L số tiền lãi 10%/ năm của khoản tiền vay, cụ thể như sau:
Từ ngày 27/7/2020 đến ngày 08/7/2021, lãi suất 10%/năm của số tiền gốc 40.000.000 đồng, tiền lãi là: 3.840.000 đồng.
Từ ngày 09/7/2021 đến ngày 18/9/2024, lãi suất 10%/năm của số tiền gốc 30.000.000 đồng, tiền lãi là 9.694.000 đồng.
Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai ngày 30/7/2024 cũng như lời trình bày tại phiên tòa của bị đơn bà Lê Thị N1 thể hiện:
Bà Lê Thị N1 xác nhận có ký kết hợp đồng vay tài sản ngày 27/7/2020 với bà Phạm Thị Hồng L số tiền vay 40.000.000 đồng (trong đó bao gồm 31.000.000 đồng tiền nợ huê và 9.000.000 đồng tiền mặt). Bà có trả lãi cho bà Liên từ thời điểm ký kết hợp đồng vay đến tháng 10 năm 2022, ban đầu lãi suất là 4 %/tháng cho đến tháng 10 năm 2021, sau đó bà L tăng lãi suất lên 5%/ tháng đến tháng 10 năm 2022. Từ tháng
11 năm 2022 đến nay bà không có khả năng trả thêm khoản nào khác. Số tiền đã trả lãi bà L, bà N1 không nhớ chính xác là bao nhiêu và bà không có biên nhận giấy tờ gì nên không có tài liệu chứng cứ chứng minh. Tại phiên tòa, bà Lê Thị N1 khai lãi suất ban đầu thỏa thuận 3%/ tháng, sau đó tăng lên 4%/ tháng và 5%/ tháng.
Đối với số tiền gốc 40.000.000 đồng thì bà đã trả 10.000.000 đồng tiền gốc vào ngày 08 tháng 7 năm 2021 có biên nhận chuyển khoản tại Ngân hàng N2 kèm theo. Hiện tại bà xác nhận chỉ nợ tiền gốc bà L 30.000.000 đồng. Đối với yêu cầu trả lãi của bà L thì bà N1 không đồng ý trả lãi vì trước đây bà L đã thu lãi cao của bà, nay bà không có khả năng trả lãi.
Tại phiên tòa, bà Lê Thị N1 chỉ đồng ý thanh toán 30.000.000 đồng tiền gốc cho bà L, không đồng ý trả tiền lãi theo yêu cầu khởi kiện của bà L.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật và về việc giải quyết vụ án như sau:
Về tố tụng:
Quá trình điều tra, thu thập chứng cứ của vụ án từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Hội đồng xét xử, Thư ký tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật.
Về nội dung:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 262 BLTTDS;
Căn cứ Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 398, Điều 463, 466, 468, 469 và Điều 470 của Bộ luật dân sự năm 2015
Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Hồng L với bà Lê Thị N1 về việc trả nợ vay.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đối tượng tranh chấp giữa bà Phạm Thị Hồng L và bà Lê Thị N1 là hợp đồng vay tài sản, vì vậy xác định đây là quan hệ pháp luật dân sự về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có nơi cư trú tại phường Đ, thành phố P - T và nguyên đơn có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T giải quyết. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bà Lê Thị N1, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1] Về tính hợp pháp của hợp đồng cho vay ngày 27/7/2020: Căn cứ lời trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa, đối chiếu Hợp đồng cho vay ngày 27/7/2020 và sự thừa nhận của bị đơn Lê Thị N1, thấy rằng chủ thể ký kết hợp đồng có năng lực pháp luật dân sự, hình thức, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội nên Hợp đồng cho vay ngày 27/7/2020 được coi là hợp pháp, có hiệu lực, các bên có nghĩa vụ phải thực hiện.
[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện về đòi nợ gốc: Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị bị đơn phải thanh toán số tiền 30.000.000 đồng nợ gốc. Bị đơn thừa nhận và đồng ý trả 30.000.000 đồng nợ gốc cho bà Phạm Thị Hồng L. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn bà Lê Thị N1 phải thanh toán 30.000.000 đồng nợ gốc theo Hợp đồng vay tiền ngày 27/7/2020.
[2.3] Xét yêu cầu khởi kiện về đòi nợ lãi:
Theo Điều 3 của hợp đồng cho vay tiền ngày 27/7/2020, lãi suất cho vay: “Không quá quy định của nhà nước và sẽ được điều chỉnh theo thỏa thuận giữa hai bên tùy theo tình hình biến động của lãi suất thị trường”. Tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày lãi suất thỏa thuận miệng là 3%/ tháng; bị đơn trình bày lãi suất thỏa thuận 3%, sau đó tăng lên 4%/ tháng, hoặc 5%/ tháng nhưng các bên đều không đưa ra tài liệu chứng cứ chứng minh về việc đã trả lãi suất giữa bên vay và bên cho vay. Như vậy, theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tại thời điểm trả nợ, tức lãi suất 10%/ năm của khoản vay.
Bị đơn trình bày về việc có trả lãi là 3%/ tháng, 4 %/ tháng cho đến tháng 10 năm 2021, sau đó tăng lên 5%/ tháng đến tháng 10 năm 2022, tuy nhiên bị đơn không xuất trình được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh về việc đã trả lại cho nguyên đơn nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.
Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền lãi tính từ thời điểm vay cho đến ngày xét xử sơ thẩm với lãi suất 10%/ năm của khoản tiền vay, cụ thể từ thời điểm 27/7/2020 đến 08/7/2021 với số tiền gốc vay 40.000.000 đồng, tiền lãi là 3.840.000 đồng và từ 09/7/2021 đến ngày 18/9/2024 với số tiền gốc vay 30.000.000 đồng, tiền lãi là 9.694.000 đồng. Tổng cộng số tiền lãi nguyên đơn yêu cầu là: 13.534.000 đồng, là có cơ sở chấp nhận.
[3] Tại phiên tòa hôm nay, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm và đề xuất hướng giải quyết phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
[5] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên, bị đơn thuộc trường hợp người cao tuổi và có đơn xin miễn tiền án phí nên căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án nên Hội đồng xét xử quyết định miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bị đơn.
Bà Phạm Thị Hồng L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. H lại cho bà Phạm Thị Hồng L số tiền 1.660.000 đồng (Một triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002592 ngày 19/4/2024.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 398, Điều 463, 466, 468, 469 và Điều 470 của Bộ luật dân sự năm 2015
Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Căn cứ Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Hồng L đối với bị đơn bà Lê Thị N1.
Buộc bà Lê Thị N1 phải trả cho bà Phạm Thị Hồng L số tiền: 43.534.000 đồng (Bốn mươi ba triệu năm trăm ba mươi bốn nghìn đồng) theo hợp đồng vay tiền ngày 27/7/2020; trong đó, nợ gốc: 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng); tiền lãi 13.534.000 đồng (Mười ba triệu năm trăm ba mươi bốn nghìn đồng);
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại điều 357 và khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
2. Về án phí: Bà Lê Thị N1 được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Phạm Thị Hồng L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. H lại cho bà Phạm Thị Hồng L số tiền 1.660.000 đồng (Một triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002592 ngày 19/4/2024.
Về quyền yêu cầu thi hành án:
Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, bị đơn quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 18/9/2024).
|
Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND TPPRTC; - CCTHADS TP.PR-TC; - TAND tỉnh Ninh Thuận; - Lưu hồ sơ, án văn. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Nga |
Bản án số 76/2024/DS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 76/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Hồng L với bà Lê Thị N.
