|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 76/2024/HS-ST Ngày: 14-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Phong
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Phú Hữu.
- Ông Nguyễn Hồng Thơ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ Hải là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 70/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 434/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Minh T (C), sinh năm 1996, tại Đồng Tháp; Nơi thường trú và nơi ở hiện nay: Tổ A, khóm A, phường B, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công Giáo; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Không; Giới tính: Nam; Con ông: Trần Minh T1, sinh năm 1969 và bà: Nguyễn Thị Hồng Ú, sinh năm 1968; Vợ: Nguyễn Thị Tuyết X, sinh năm 1993 (đã ly hôn); Con: Trần Bảo M, sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 18/9/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh tuyên phạt 01 năm tù về “Tội trộm cắp tài sản” tại bản án số 51/2018/HS-ST, chấp hành hình phạt xong ngày 15/3/2019, đã xóa án tích.
Ngày 11/6/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười tuyên phạt 01 năm 03 tháng tù về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án số 32/2021/HSST, chấp hành hình phạt xong ngày 11/4/2022, đã xóa án tích.
- Tạm giữ: Ngày 20/4/2024; Tạm giam: Ngày 29/4/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Vũ Gia D, sinh năm 1989 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Ấp H, xã B, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Minh T là người nghiện ma túy. Khoảng 05 giờ ngày 18/4/2024, T đến gặp Vũ Gia D ngụ ấp H, xã B, huyện X, tỉnh Đồng Nai mượn xe ô tô biển số 60LD-042.80 màu vàng để chạy về thành phố C, tỉnh Đồng Tháp mục đích chạy thử để thuê chạy dịch vụ. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên T dùng điện thoại di động hiệu Iphone màu xám gắn sim số 0767547867 liên lạc với người tên B không rõ nhân thân, hỏi mua 6.000.000 đồng ma túy loại Ketamine, người này đồng ý, hẹn giao ma túy tại khu vực vòng xoay Bình Phước, thành phố T trực thuộc thành phố Hồ Chí Minh.
Khoảng 08 giờ 20 phút cùng ngày, T điều khiển xe ô tô đến điểm hẹn gặp B trả số tiền 6.000.000 đồng và nhận 01 bịch nylon màu trắng dạng nắp kẹp có viền màu đỏ bên trong có chứa 02 bịch nylon màu trắng dạng nắp kẹp có viền màu xanh và 02 bịch nylon màu trắng dạng nắp kẹp có viền màu trắng, tất cả bên trong đều chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng là ma túy loại Ketamine. Sau khi nhận ma túy, T cất giấu vào hộp chứa đồ giữa ghế lái và ghế ngồi rồi điều khiển xe ô tô chạy về nhà tại số B, Hồ Tùng M1, tổ A, khóm A, phường B, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp mang số ma túy trên vào phòng ngủ cất giấu trong tủ quần áo. Khoảng 22 giờ cùng ngày, T lấy 01 bịch nylon chứa ma túy ra một mình sử dụng, còn lại 03 bịch nylon chứa ma túy T tiếp tục cất giấu vào tủ quần áo.
Do sợ gia đình phát hiện nên khoảng 12 giờ ngày 19/4/2024 T mang 03 bịch ma túy còn lại cất giấu bên trong hộp đựng đồ giữa ghế lái và ghế ngồi trên xe ô tô biển số 60LD-042.80 còn dụng cụ sử dụng ma túy là đĩa nhựa và tờ tiền được cuộn thành ống hút thì để trong hộp (cóp) chứa đồ phía sau xe. Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên T một mình điều khiển xe ô tô trên từ Phường A đến Phường F mục đích nhằm tìm nơi sử dụng ma túy. Khi đến trước số nhà B, Phạm Hữu L, tổ 32, khóm D, Phường F thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế và ma túy, phối hợp Đội Cảnh sát giao thông Công an thành phố C, Công an P phát hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang lúc 23 giờ 50 phút cùng ngày, tạm giữ người và các tang vật phạm tội gồm:
- Tại vị trí hộp chứa đồ giữa ghế lái và ghế ngồi trên xe ô tô biển số 60LD-042.80 tạm giữ 03 bịch nylon màu trắng gồm 01 bịch nylon màu trắng dạng nắp kẹp có viền màu trắng bên trong chứa nhiều tinh thể màu trắng là ma túy loại Ketamine và 02 bịch nylon màu trắng dạng nắp kẹp có viền màu xanh bên trong chứa nhiều tinh thể màu trắng là ma túy loại Ketamine.
- Tại vị trí hộp chưa đồ phía sau xe ô tô tạm giữ 01 đĩa nhựa màu xanh trắng, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được cuộn thành ống hút bên ngoài được bọc bằng giấy đầu lọc thuốc lá hiệu 555.
- Tạm giữ 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu xám gắn sim số 0767547867, đây là tài sản của T sử dụng để liên lạc mua ma túy sử dụng; 01 xe ô tô biển số 60LD-042.80 màu vàng, quá trình điều tra xác định đây là tài sản của Vũ Gia D không liên quan đến hành vi phạm tội nên đã trả lại cho anh D xong.
Tại bản kết luận giám định số 527/KL-KTHS ngày 26/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận: Tinh thể rắn chứa trong 02 bịch nylon dạng nắp kẹp màu xanh và trong 01 bịch nylon dạng nắp kẹp màu trắng gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 4,573 gam, loại Ketamine.
- Về trách nhiệm dân sự: Không phát sinh.
Trong quá trình điều tra bị cáo thừa nhận mục đích tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng như nội dung đã nêu trên, phù hợp với lời khai người làm chứng, các tài liệu chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số 71/CT-VKS-TPCL ngày 08/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh đã truy tố bị cáo Trần Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Căn cứ Điều 249 của Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Minh T với mức án từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng như cáo trạng đã nêu.
* Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Bản Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo không tranh luận gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát thành phố C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, cũng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh là đúng với hành vi của bị cáo. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai người làm chứng, các tài liệu chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở xác định:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 23 giờ 50 phút ngày 19/4/2024, T điều khiển xe ô tô biển số 60LD-042.80 tại khu vực Tổ 32, khóm D, phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp để sử dụng ma túy thì bị bắt quả tang trên xe T đang tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 4,573 gam, loại Ketamine.
[3] Với những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận, hành vi phạm tội của bị cáo Trần Minh T đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, như sau:
Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
................................................................................................................................
g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;
[4] Xét về hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây nguy hại lớn về nhiều mặt đối với đời sống xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương nơi xảy ra vụ án.
Khi thực hiện tội phạm, bị cáo đã thành niên, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, bị xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, bị cáo nhận thức rõ tác hại của việc sử dụng các chất ma túy là gây tổn hại đến thể chất, tinh thần của con người, nó cũng là nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn về ma túy trong xã hội và phát sinh các loại tội phạm khác trong khi toàn xã hội đang kiên quyết đấu tranh phòng, chống các tệ nạn và các tội phạm về ma tuý. Đáng lẽ ra khi bị xét xử và trả giá bằng các bản án trước đây, bị cáo phải cải sửa bản thân, phải biết tránh xa các chất ma túy sống tốt hơn cho gia đình và xã hội. Nhưng ngược lại, vì muốn có ma túy sử dụng để thỏa mãn nhu cầu của cá nhân nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên. Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện, chứng tỏ hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và tội phạm đã hoàn thành. Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có thời gian học tập, cải tạo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội sau này, đồng thời có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có bà nội tên Nguyễn Thị Đ được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[8] Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với 01 (một) bì thư, ghi ký hiệu “Niêm phong số: 510, ngày 20/4/2024”, được niêm phong, trên niêm phong có đóng dấu tròn màu đỏ của “Phòng K Công an tỉnh Đ” và các chữ ký ghi rõ họ, tên Nguyễn Văn Thắng E, Nguyễn Văn Bé N, Võ Thành T2 và Trần Minh T. Bên trong chứa 4,378 gam chất ma túy còn lại sau giám định, là vật mà Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) bao thư màu trắng, được niêm phong, trên niêm phong có đóng dấu tròn màu đỏ ghi “CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA – CÔNG AN THÀNH PHỐ CAO LÃNH” cùng các chữ ký ghi, họ, tên Điều tra viên Võ Thành T2 và người bị bắt Trần Minh T. Bên trong chứa tờ giấy bạc mệnh giá 10.000đ, được quấn thành ống, bên ngoài được bọc bằng giấy đầu lọc thuốc lá 555; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xám, bên trong có một sim số điện thoại, đã qua sử dụng (không kiểm tra chất lượng bên trong), là vật liên quan đến việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 (một) đĩa nhựa màu xanh trắng, đã qua sử dụng, là vật liên quan đến việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
(Hiện vật chứng đang được Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh tạm quản lý, theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26/8/2024).
[9] Các vấn đề khác:
- Đối với người thanh niên tên B, không rõ đặc điểm nhân thân, là người đã bán trái phép chất ma túy cho bị cáo Trần Minh T. Do không đủ thông tin, Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa tìm được người này nên chưa có cơ sở xử lý.
- Đối với anh Vũ Gia D sau khi giao xe cho T điều khiển về thành phố C thì trên đường về T mua ma túy sử dụng và cất giấu trên xe đến khi bị bắt quả tang, anh D hoàn toàn không biết nên không xem xét, xử lý hình sự.
[10] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát thành phố C về tội danh, khung hình phạt, mức hình phạt và các vấn đề khác là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.
[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm g khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trần Minh T (C) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Minh T (Cu Ti) 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/4/2024.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) bì thư, ghi ký hiệu “Niêm phong số: 510, ngày 20/4/2024”, được niêm phong, trên niêm phong có đóng dấu tròn màu đỏ của “Phòng K Công an tỉnh Đ” và các chữ ký ghi rõ họ, tên Nguyễn Văn Thắng E, Nguyễn Văn Bé N, Võ Thành T2 và Trần Minh T. Bên trong chứa 4,378 gam chất ma túy còn lại sau giám định; 01 (một) đĩa nhựa màu xanh trắng, đã qua sử dụng.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) bao thư màu trắng, được niêm phong, trên niêm phong có đóng dấu tròn màu đỏ ghi “CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA – CÔNG AN THÀNH PHỐ CAO LÃNH” cùng các chữ ký ghi, họ, tên Điều tra viên Võ Thành T2 và người bị bắt Trần Minh T. Bên trong chứa tờ giấy bạc mệnh giá 10.000đ, được quấn thành ống, bên ngoài được bọc bằng giấy đầu lọc thuốc lá 555; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xám, bên trong có một sim số điện thoại, đã qua sử dụng (không kiểm tra chất lượng bên trong).
(Hiện vật chứng đang được Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh tạm quản lý, theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26/8/2024).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Minh T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Văn Phong |
8
Bản án số 76/2024/HS-ST ngày 14/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 76/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
