|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 76/2024/HS-ST
Ngày: 11/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU - TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Văn Năm.
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Hoàng Quang Phong
Ông Nguyễn Văn Bẩy
Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Hùng - Thư ký tòa án nhân dân thị xã Đông Triều.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều tham gia phiên tòa: Ông Tống Duy Vương - Kiểm sát viên.
Ngày 11/09/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 66/2024/HS-ST ngày 22/8/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2024/QĐXXST-HS ngày 28/8/2024 đối với ba bị cáo:
1. Bị cáo Đinh Văn Q - Tên gọi khác: không; sinh ngày: 02/8/1986 tại thị xã K, tỉnh Hải Dương; nơi thường trú: khu T, phường M, thị xã K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: lao động phổ thông; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn T và bà Vũ thị X; bị cáo chưa có vợ, con; - Tiền án: Ngày 28/6/2016, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xử phạt 07 năm tù về tội: “Cướp tài sản” quy định tại khoản 2 Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 1999. Ngày 02/10/2022, chấp hành xong bản án. Tiền sự: Chưa. Nhân thân: Ngày 09/8/2007, Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương xử phạt 05 năm tù về tội: “Cố ý gây thương tích”. Ngày 26/01/2011, chấp hành xong bản án. Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp và tạm giữ ngày 14/5/2024, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Đ; có mặt tại phiên tòa.
2. Bị cáo Đồng Xuân H - Tên gọi khác: không; sinh ngày: 23/3/1987 tại thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: khu phố A, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động phổ thông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đồng Xuân H1 và bà Lê Thị L; đã ly hôn, có một con sinh 2008; tiền án: Ngày 15/9/2022, Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, xử phạt 15 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Ngày 21/6/2023, chấp hành xong bản án. tiền sự: không. Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ ngày 14/5/2024, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Đ, có mặt tại phiên tòa.
3. Bị cáo Phùng Văn P - Tên gọi khác: không; sinh ngày: 10/7/1983 tại thị xã K, tỉnh Hải Dương; nơi thường trú: khu H, phường M, thị xã K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: lao động phổ thông; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Văn A và bà Chu Thị T1; Chưa có vợ, con; tiền án:không, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ ngày 14/5/2024, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Đ, có mặt tại phiên tòa.
Người chứng kiến:
Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1956; địa chỉ: tổ B, khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1969; địa chỉ: tổ B, khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phùng Văn P và Đồng Xuân H đều là người sử dụng ma túy loại Methaphetamine. Chiều ngày 14/5/2024, P gọi điện thoại nhờ H mua hộ ma túy để sử dụng. Hòa đồng ý và hẹn P đến nhà H để góp tiền cùng đi mua ma túy. Sau đó, P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 34P2-0957 đến đón H. Trên đường đi, H chỉ đường cho P đi sang phường M, thị xã K, tỉnh Hải Dương. Khi đi đến khu vực T3 cầu Đ, thì P dừng xe và đưa cho H 300.000đồng. H nhận tiền và gọi điện thoại cho Đinh Văn Q hỏi mua 800.000đồng ma túy Methamphetamine (gồm 300.000đồng của P góp và 500.000 đồng của H góp). Q đồng ý bán và bảo H đến nhà Q ở khu T, phường M, thị xã K, tỉnh Hải Dương, để giao dịch. Sau khi thỏa thuận, Q lấy 02 túi nilon chứa ma túy, gồm 01 túi chứa nhiều ma túy và 01 túi chứa ít ma túy để trên giường nhằm mục đích bán cho H.
Khoảng 15 giờ 30 cùng ngày, H và P đến và cùng đi vào trong phòng ngủ của Q. H đưa cho Q 800.000 đồng, Q nhận tiền, rồi lấy 02 túi ma túy để trên giường đưa cho H. Sau khi nhận, H đưa cho P 01 túi chứa ít ma túy, túi ma túy còn lại H cất giấu trong túi quần. Sau đó, P tiếp tục điều khiển xe mô tô chở H đi về. Khoảng 15 giờ 45 phút cùng ngày, cả 2 đi đến khu vực nghĩa trang T4, khu V, phường M, thị xã Đ, thì bị Tổ công tác của Công an phường M kiểm tra, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ: Trong túi quần phía trước bên phải của H 01 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng, trong túi quần phía sau bên trái của P 01 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng. Ngoài ra còn tạm giữ của H: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S7 gắn sim 0383.230387; tạm giữ của P: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y51 gắn sim 0985.064558 và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 34P2-0957.
Căn cứ tài liệu điều tra, cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Đinh Văn Q. Khám xét khẩn cấp người và chỗ ở của Q, thu giữ trong túi quần đùi phía trước bên phải của Q đang mặc 01 túi nilon bên trong có 11 túi nilon đều chứa chất tinh thể màu trắng và 01 túi nilon có 15 viên nén; thu trên ghế nhựa trong phòng ngủ của Q 01 túi nilon bên trong có 03 túi nilon đều chứa chất tinh thể màu trắng; thu trên giường trong phòng Q 01 túi nilon bên trong có 06 túi nilon đều chứa chất tinh thể màu trắng. Ngoài ra còn tạm giữ của Q: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax gắn sim 0395.235359, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone gắn sim 0963.903.xxx và 1.300.000 đồng.
Tại bản Kết luận giám định số 711/KL-KTHS ngày 22/5/2024, của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận:
- - Mẫu vật thu giữ của Đồng Xuân H là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,21 gam (Không phẩy hai mốt gam).
- - Mẫu vật thu giữ của Phùng Văn P là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,208 gam (Không phẩy hai không tám gam).
- - Mẫu vật thu giữ của Đinh Văn Q gồm: 11 túi nilon thu giữ trên người là ma túy Ketamine, tổng khối lượng là 7,519 gam; 01 túi nilon chứa 15 viên nén là ma túy loại MDMA có khối lượng 5,822 gam; 09 túi nilon thu giữ trong phòng ngủ là ma túy loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 2,164 gam.
Tại phiên tòa, Đinh Văn Q, Phùng Văn P và Đồng Xuân H khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Ngoài ra, Đinh Văn Q còn khai: Nguồn gốc ma túy bán cho H và Q tàng trữ bị thu giữ trên người, trong phòng ngủ khi khám xét là do Q mua của một người đàn ông tên C ở tỉnh Bắc Giang (không rõ lai lịch, địa chỉ) với giá 8.000.000 đồng vào ngày 13/5/2024. Sau khi mua, Q mang ma túy về nhà chia nhỏ, cất giấu nhằm mục đích để bán và mới bán được cho H và P thì sau đó bị phát hiện thu giữ.
Những người chứng kiến gồm các anh Nguyễn Văn L1 và Nguyễn Văn D cùng có lời khai xác nhận việc chứng kiến cơ quan điều tra khám xét và thu giữ ma túy bị cáo H và P.
Tại cáo trạng số 1650/CT-VKSĐT ngày 21/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều truy tố bị cáo Đinh Văn Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo điểm p, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Đồng Xuân H và Phùng Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự
Đại diện Viện kiểm sát căn cứ khoản điểm p, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Đinh Văn Q từ 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù đến 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; thời hạn tù kể từ ngày bắt giữ (14/5/2024).
Căn cứ khoản điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điêm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Đồng Xuân H từ 21 (Hai mươi mốt) tháng tù đến 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù kể từ ngày bắt giữ (14/5/2024).
Căn cứ khoản điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Phùng Văn P từ 15 (Mười lăm) tháng tù đến 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù kể từ ngày bắt giữ (14/5/2024).
Về vật chứng: căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự,
Tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định và 03 sim điện thoại gồm: sim số 0383.230.xxx; sim số 0985.064.558; sim số: 0395.235.359.
Tịch thu phát mại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S7, màu đen, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y 51, màu Xanh, đã qua sử dụng; 01 điện thoại hiệu Iphone 13 promax, màu vàng, đã qua sử dụng. Trả lại bị cáo Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng, đã qua sử dụng. Gắn sim số 0963.903.126
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 800.000 đồng (T2 trăm nghìn đồng) trong số 1.300.000 đồng thu của Q là tiền mua bán ma túy mà có.
Trả lại cho bị cáo Q 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
Các bị cáo không tranh luận với luận tội của Đại diện Viện kiểm sát.
Thực hiện quyền nói lời sau cùng, các bị cáo nhận tội, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, truy tố và xét xử đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; không bị khiếu nại, tố cáo nên được Hội đồng xét xử đánh giá là hợp pháp. Những chứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập cũng như do người tham gia tố tụng cung cấp bảo đảm đúng quy định theo Bộ luật Tố tụng hình sự, được Hội đồng xét xử đánh giá là hợp pháp.
[2] Hành vi phạm tội của ba bị cáo được như sau:
Ngày 14/5/2024, Phùng Văn P và Đồng Xuân H có hành vi cùng nhau góp 800.000 đồng để đi mua ma túy Methamphetamine về sử dụng. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, tại khu T, phường M, thị xã K, tỉnh Hải Dương, Đinh Văn Q có hành vi bán trái phép 0,418 gam (không phẩy bốn một tám gam) ma túy Methamphetamine với giá 800.000 đồng cho Đồng Xuân H. Sau khi mua, H và Phùng Văn P cất giấu số ma túy trên, đi đến khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Ngoài ra, Đinh Văn Q còn tàng trữ trái phép 7,519 gam ma túy Ketamine, 5,822 gam ma túy MDMA và 2,164 gam ma túy Methamphetamine, tổng cả ba loại ma túy là 15,505 gam ma túy nhằm mục đích để bán thì bị phát hiện thu giữ.
[3] Hành vi bán chất ma túy, tàng trữ ma túy để bán của Đinh Văn Q và hành vi mua ma túy rồi cất giấu ma túy để sử dụng của hai bị cáo Đồng Xuân H và Phùng Văn P là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước. Ba bị cáo là người thành niên, có đủ khả năng nhận thức, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật vẫn cố tình thực hiện. Bị cáo Q đã thực hiện hành vi phạm tội khi ngay trước đó đã phạm tội rất nghiêm trọng, chưa được xóa án tích lại phạm tội mới rất nghiêm trọng nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm; đồng thời bị cáo phải chịu trách nhiệm với hành vi bán ma túy cho Q và H và số ma túy bị cáo tàng trữ để bán là 7,519 gam ma túy loại Ketamine; 5,822 gam ma túy loại MDMA; 2,581 gam ma túy loại Methamphetamine; tổng ba loại ma túy là 15,923 gam. Vì vậy, đối chiếu với các yếu tố cấu thành tội phạm đủ căn cứ khẳng định Đinh Văn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm p, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đồng Xuân H và phùng Văn P cùng góp tiền cùng nhau đi mua ma túy của Q với giá tiền 800.000 đồng được hai gói ma túy có tổng trọng lượng 0,418 gam ma túy Methamphetamine, hai bị cáo cất dấu để nhằm sử dụng nên hai bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[4] Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị áp dụng điều luật cũng như mức hình phạt đối với bị cáo; Hội đồng xét xử đánh giá cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều là có căn cứ, đúng pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận phân tích đánh giá trong luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Ba bị cáo nhận tội; lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác như biên bản bắt người phạm tội quả tang; kết luận giám định, sơ đồ hiện trường, biên bản khám xét nên ba bị cáo được đánh giá là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
[5] Trong vụ án “Tàng trữ trái phép chất ma túy” hành vi của H và P thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn; bị cáo H và P là những người trực tiếp bỏ tiền đi mua ma túy, P bỏ ra 300.000 để góp với H mua ma túy nhưng P lại là người điều khiển xe mô tô đưa H đi mua ma túy; H tiếp nhận ý chí của P và là người chỉ đường cho P điều khiển xe sang K và bỏ số tiền lớn hơn để mua ma túy (500.000 đồng) và H cũng là người gọi điện cho Q để liên hệ mua ma túy; ngay sau khi mua được ma túy các bị cáo đã chia nhau cất giữ nên hai bị cáo phải chịu trách nhiệm ngang nhau với toàn bộ số ma túy mà hai bị cáo tàng trữ và giữ vai trò ngang nhau trong vụ án.
Bị cáo Q chịu trách nhiệm riêng về hành vi bán ma túy do bị cáo thực hiện và lượng ma túy bị cáo tàng trữ nhằm mục đích để bán.
[6] Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo Đinh Văn Q, Đồng Xuân H và Phùng Văn P đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Q có nhân thân xấu; năm 2007, bị Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương xử phạt 05 năm tù về tội: “Cố ý gây thương tích”.
[7] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Đồng Xuân H bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "Tái phạm" quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Hai bị cáo Q và P không bị áp dụng tình tiết tăng nặng.
[8] Sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, nhân thân của các bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử thấy hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước và gây mất an ninh trật tự nên cần phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình nghị án, Hội đồng xét xử cũng xem giảm nhẹ một phần hình phạt để các bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của nhà nước và pháp luật.
[9] Vật chứng vụ án: Cần tịch thu tiêu hủy phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số 711/KL- KTHS ngày 28/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q và 03 điện thoại gồm: sim số: 0395.235.xxx; sim số 0383.230.387; sim số 0985.064.558; tịch thu phát mại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y 51; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro mã và 01 điện thoại hiệu Samsung Galaxy S7, màu vàng, đã qua sử dụng; Trả lại bị cáo Q điện thoại Iphone Xs max kèm theo sim 0963.903.126.
Đối với Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 34P2-0957, quá trình điều tra không xác định được số khung, số máy nên cần được giao lại cho Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý theo thẩm quyền
Số tiền 800.000 đồng trong số 1.300.000 đồng thu của Q là tiền mua bán ma túy mà có nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước. Số còn lại 500.000 đồng là tiền riêng của Q cần trả lại bị cáo nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
[10] Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 và Khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự đều quy định người phạm tội có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng; xét thấy các bị không có tài sản, công việc và thu nhập ổn định nên không áp dụng.
[11] Đối với người đàn ông bán ma túy cho Q, quá trình điều tra không xác định được lai lịch địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.
[12] Các bị cáo có quyền kháng cáo trong phạm vi và thời hạn luật định.
[13] Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm p, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Đinh Văn Q 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; thời hạn tù kể từ ngày bắt giữ (14/5/2024).
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Đồng Xuân H 21 (Hai mươi mốt) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời hạn tù kể từ ngày bắt giữ (14/5/2024).
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Phùng Văn P 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù kể từ ngày bắt giữ (14/5/2024).
Về vật chứng: áp dụng: khoản 1, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,
Tịch thu tiêu hủy phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số 711/KL- KTHS ngày 22/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q và 03 điện thoại gồm: sim số: 0395.235.xxx; sim số 0383.230.387; gắn sim số 0985.064.558
Tịch thu phát mại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S7, màu đen, đã qua sử dụng,; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y51, màu xanh, đã qua sử dụng,; 01 điện thoại hiệu Iphone 13 promax, màu vàng, đã qua sử dụng. Trả lại bị cáo Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng, đã qua sử dụng, gắn sim số 0963.903.126
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 800.000 đồng (T2 trăm nghìn đồng) trong số 1.300.000 đồng thu của Q là tiền mua bán ma túy mà có.
Trả lại cho bị cáo Q 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận giữa cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự số 105 ngày 22/8/2024 và Biên bản giao nhận tiền giữa Cơ quan Công an thị xã Đ và kho bạc Đông Triều ngày 11/6/2024 đối với gói niêm phong 366 nhập TK 9911 )
Giao Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 34P2-0957 để giải quyết theo thẩm quyền. Tình trạng xe như lệnh nhập kho vật chứng ngày 07/8/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Đinh Văn Q, Đồng Xuân H và Phùng Văn P, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 332; khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Năm |
Bản án số 76/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU - TỈNH QUẢNG NINH về hình sự về tội mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 76/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Mua bán và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU - TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đinh Văn Q cùng đồng phạm bị truy tố về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
