TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 76/2024/HNGĐ-ST Ngày: 08-08-2024 V/v Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán –Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phát Lộc
Các Hội thẩm nhân dân :
- Ông Danh Lươl
- Ông Trương Văn Chung
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Mỹ Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
Ngày 31 tháng 07 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 279/2023/TLST-HNGĐ ngày 07/12/2023 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 29 tháng 05 năm 2024 và Quyết định Hoãn phiên tòa số 72/2024/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 06 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm: 1974 (vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Phạm Thanh B, sinh năm: 1971 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp A, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
Địa chỉ: Ấp A, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn và trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày:
Vào năm 1990, chị Nguyễn Thị N và ông Phạm Thanh B sau thời gian quen biết nhau, được hai bên gia đình tổ chức đám cưới và chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng đến khoảng năm 2000 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do không hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cự cãi nên đã ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Nay nhận thấy cuộc sống vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị N yêu cầu xin được ly hôn với anh Phạm Thanh B.
Về con chung: Có 02 con chung là Phạm Kiên N1 (nam), sinh ngày 09/12/1992 và Phạm Thị Thanh T (nữ), sinh ngày 02/10/1996. Hiện các con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Không có, nên không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Phạm Thanh B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không rõ lý do nên không thể tiến hành lấy ý kiến của anh B về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Phạm Thanh B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn nhưng vẫn đảm bảo quyền lợi cho nguyên đơn, bị đơn theo quy định pháp luật.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Phạm Thanh B tự nguyện kết hôn năm 1990 có tổ chức lễ cưới và chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn nên không được xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, chị Nguyễn Thị N và anh Phạm Thanh B chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh B nhiều lần, nhưng anh B đều vắng mặt không lý do. Từ đó cho thấy, cuộc sống hôn nhân của anh chị không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do chị Nguyễn Thị N và anh Phạm Thanh B kết hôn có tổ chức lễ cưới và chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn nên Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị N và anh B.
[3] Về con chung: Chị N khai có 02 con chung là Phạm Kiên N1 (nam), sinh ngày 09/12/1992 và Phạm Thị Thanh T (nữ), sinh ngày 02/10/1996. Hiện các con đã trưởng thành không ai yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Về tài sản chung: Đương sự khai không có, không ai yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về nợ chung: Đương sự khai không có, không ai yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 9, Điều 14, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81 và Điều 82 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Các Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị N và anh Phạm Thanh B
- Về nuôi con chung: Do 2 con chung là Phạm Kiên N1 (nam), sinh ngày 09/12/1992 và Phạm Thị Thanh T (nữ), sinh ngày 02/10/1996 hiện đã trưởng thành nên không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung: Đương sự khai không có, không ai yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Đương sự khai không có, không ai yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị N phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0009898 ngày 07/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Mỹ. Chị Nguyễn Thị N đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
- Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (08/08/2024), bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Phát Lộc |
Bản án số 76/2024/HNGĐ-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 76/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn
