Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LẠNG SƠN

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2024/HS-ST

Ngày 14 - 6 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Phương Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đỗ Anh Đại
  2. Ông Đào Xuân Thuỷ

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Mai Trang, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Kỳ Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 59/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Vương Hữu N, sinh ngày 27 tháng 4 năm 1978 tại tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: số D, đường P, khối A, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vương Quốc H và bà Đàm Thị K; có vợ là Hoàng Thị P và 02 con; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: chưa từng bị kết án, xử lý kỷ luật nhưng đã từng bị đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc tại Trung tâm chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh L theo Quyết định số 1359/QĐ-UBND ngày 01/6/2009 của Ủy ban nhân dân thành phố L với thời hạn 24 tháng, với lý do nghiện ma tuý, nay đã được xóa; bị bắt, tạm giữ từ ngày 28/01/2024, tạm giam từ ngày 31/01/2024 cho đến nay. Có mặt;

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Hoàng Thị P, sinh năm 1982. Địa chỉ: Số D, đường P, khối A, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt;

- Người chứng kiến: Ông Ninh Dẩu H1. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 50 phút ngày 28/01/2024, tại khu vực ngõ F đường L, phường T, thành phố L, Công an thành phố L bắt quả tang Vương Hữu N đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ 01 gói giấy màu xanh (kích thước 03cm x 02cm) chứa 02 gói giấy màu vàng (cùng kích thước 1,5cm x 01cm) đựng chất bột màu trắng ở trong lòng bàn tay trái, Vương Hữu N khai nhận là ma túy H2. Ngoài ra còn tạm giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu đen, biển kiểm soát 12P1-042.61. Đồng thời, tiến hành xét nghiệm xác định: Vương Hữu N dương tính với ma túy MOR.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Vương Hữu N tại địa chỉ nêu trên không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Tại Cơ quan điều tra, Vương Hữu N khai nhận: Bản thân sử dụng ma túy Heroin từ năm 2009 đến nay. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 28/01/2024, Vương Hữu N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12P1-042.61 đến khu vực trước cổng chợ Đ, phường Đ, thành phố L trao đổi, mua với một người đàn ông (không rõ lai lịch cụ thể) 400.000 đồng được 01 gói giấy màu xanh chứa 02 gói giấy màu vàng đựng ma túy Heroin. Vương Hữu N cầm ma túy mua được trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi tìm nơi để sử dụng, khi đi đến khu vực trước nhà số A, ngõ F đường L, phường T, thành phố L thì bị phát hiện, bắt và thu giữ ma túy như đã nêu trên.

Tại Kết luận giám định số 261/KL-KTHS ngày 30/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L xác định: Chất bột màu trắng là chất ma túy Heroin có khối lượng 0,372 gam (đã trừ bì).

Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh đối với người đàn ông bán ma túy cho Vương Hữu N nhưng chưa làm rõ được để xử lý.

Tại Cáo trạng số 63/CT-VKS ngày 06/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố Vương Hữu N về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Vương Hữu N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho vợ bị cáo Hoàng Thị P chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu đen, biển kiểm soát 12P1-042.61.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Hoàng Thị P trình bày: Bà là vợ của bị cáo, xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu đen, biển kiểm soát 12P1-042.61 do bà mua, bà để chồng bà sử dụng để đi lại nhưng bà là người cất giữ giấy đăng ký xe, bà xin được nhận lại chiếc xe để sử dụng phục vụ cuộc sống hàng ngày.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vương Hữu N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; 50; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vương Hữu N từ 14 tháng đến 16 tháng tù, tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong; trả lại cho bà Hoàng Thị P 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen biển kiểm soát 12P1 - 042.61 số khung RLHHC1208BY580504, số máy HC12E-3380625 xe cũ đã qua sử dụng, do xác định chiếc xe trên là của vợ chồng bà Hoàng Thị P, việc chồng bà sử dụng để làm phương tiện mua ma tuý bà không biết.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội trở thành người công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người chứng kiến, nhưng người chứng kiến đã có lời khai tại cơ quan điều tra, xét thấy việc vắng mặt người chứng kiến không ảnh hưởng đến quá trình xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có ai có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về trách nhiệm hình sự: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, với lời khai của người tham gia tố tụng khác, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định: Hồi 10 giờ 50 phút ngày 28/01/2024, tại khu vực trước nhà số A, ngõ F đường L, phường T, thành phố L, bị cáo Vương Hữu N đang thực hiện hành vi cất giấu trong lòng bàn tay trái 01 gói ma tuý Heroin với trọng lượng là 0,372 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi trên của bị cáo Vương Hữu N đã đủ căn cứ để xác định phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, như vậy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, làm băng hoại đạo đức xã hội và là nguyên nhân phát sinh tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện để thỏa mãn nhu cầu bản thân.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vương Hữu N đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có bố đẻ là ông Vương Quốc H được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ giải phóng, H3 kháng chiến hạng nhì, vì vậy bị cáo còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

[6] Về nhân thân: Bị cáo chưa từng bị kết án, xử lý hành chính, tuy nhiên năm 2009 bị cáo đã từng bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh do nghiện ma tuý, ngày 30/5/2011 đã chấp hành xong, đến nay đã được xoá, vì vậy xác định bị cáo có nhân thân chưa tốt.

[7] Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo như trên, nhận thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định tương xứng với hành vi của bị cáo đã gây ra để giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình, xã hội và để phòng ngừa chung.

[8] Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo.

[9] Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan điều tra chưa có cơ sở làm rõ để xử lý trong vụ án, do đó Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[10] Về việc xử lý vật chứng: Đối với số ma túy còn lại sau khi giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành, tàng trữ cần tịch thu tiêu hủy; đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen bạc biển kiểm soát 12P1 - 042.61, đứng tên chủ xe là bị cáo Vương Hữu N cấp giấy chứng nhận đăng ký xe năm 2013, bị cáo đã sử dụng chiếc xe trên làm phương tiện để đi mua ma tuý, tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên toà, vợ bị cáo là bà Hoàng Thị P trình bày xin được nhận lại chiếc xe để phục vụ đi lại đưa đón con đi học, xét thấy chiếc xe máy trên là tài sản chung vợ chồng không phân chia được, việc bị cáo sử dụng đi mua ma tuý bà Hoàng Thị P không biết, vì vậy Hội đồng xét xử trả lại chiếc xe trên cho bà Hoàng Thị P.

[11] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[12] Xét thấy nội dung đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn tại phiên tòa đối với bị cáo là phù hợp, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận.

[13] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, 50; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố bị cáo Vương Hữu N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  2. Xử phạt bị cáo Vương Hữu N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/01/2024.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  3. Về xử lý vật chứng:
    • - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong bên trong đựng mẫu vật là chất ma túy sau giám định;
    • - Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Hoàng Thị P 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen biển kiểm soát 12P1 - 042.61 số khung RLHHC1208BY580504, số máy HC12E-3380625, xe cũ đã qua sử dụng.

    (Theo Biên bản giao nhận vật chứng 07/5/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn).

  4. Về án phí: Buộc bị cáo Vương Hữu N phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND TP. Lạng Sơn;
  • - Công an TP. Lạng Sơn;
  • - CQTHAHS Công an TP. Lạng Sơn (2b);
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Lạng Sơn;
  • - Chi cục THADS TP. Lạng Sơn;
  • - Bị cáo; Người có QLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chu Thị Phương Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/HS-ST ngày 14/06/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 76/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vương Hữu Nghĩa Tàng trữ ma tuý khoản 1 Đ249
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger