|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN TP.HÀ NỘI *** |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ***** |
|
Bản án số: 76/2024/HSST Ngày: 16/4/2024 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN |
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Như Hùng
- Bà Nguyễn Thị Ngọc Loan
- Thư ký phiên tòa tại điểm cầu trung tâm: Bà Đào Thị Tuyền – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân tham gia phiên tòa tại điểm cầu trung tâm: Bà Lê Khanh - Kiểm sát viên
Trong ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm: Phòng xét xử trực tuyến - Trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội và điểm cầu thành phần: Phòng xét xử trực tuyến tại Trại tam giam số 1 – Công an thành phố H, xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 52/2024/TLST-HS ngày 25/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXXST-HS ngày 01/4/2024 đối với bị cáo:
Vũ Khánh T, sinh năm: 1991; HKTT: Số B Quán T, phường Q, quận B, thành phố Hà Nội; chỗ ở: Số B ngách B ngõ B B, phường B, quận H, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn K và bà Nguyễn Thu H; tiền án, tiền sự: Không.
D chỉ bản số 11 lập ngày 10/01/2024 tại Công an quận T; bị tạm giữ ngày 02/01/2024; tạm giam ngày 11/01/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số II – Công an thành phố H (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 02/01/2024, tổ công tác công an phường K làm nhiệm vụ tại tuyến phố V - phường K - quận T - TP ., đến trước số A ngõ B phố V - phường K - quận T - TP . phát hiện Vũ Khánh T có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, Vũ Khánh T khai nhận bản thân đang cất giấu ma tuý trong người. T tự giác lấy từ bên trong túi áo khoác ngoài phía trước bên phải T
đang mặc ra 01 (một) túi nilông màu đỏ kích thước khoảng (02 x 03) cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng và 02 (hai) viên nén hình tròn màu hồng trên mỗi viên nén đều dập chữ WY giao nộp cho tổ công tác. T khai nhận đây là túi nilông chứa ma túy đá và ma túy tổng hợp hồng phiến của T mang đi để sử dụng. Cơ quan Công an đã tiến hành thu giữ, niêm phong tang vật và đưa về trụ sở Công an phường T để làm rõ.
Cơ quan công an thu giữ của Vũ Khánh T:
- 01 (một) túi nilông màu đỏ kích thước khoảng (02 x 03) cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng và 02 (hai) viên nén hình tròn màu hồng trên mỗi viên nén đều dập chữ WY.
- 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone màu xanh, số IMEI1: 352843115775456, số IMEI2: 352843115954601, bên trong có lắp sim thuê bao số: 0366489529 (đã qua sử dụng).
Tại bản kết luận giám định số 295/KL-KTHS ngày 09/01/2024 của Phòng K1 - Công an Thành phố H cho kết quả như sau:
+) Tinh thể màu trắng, khối lượng: 0,088 gam là ma tuý loại Methamphetamine.
+) 02 (hai) viên nén màu hồng, khối lượng: 0,209 gam là ma tuý loại Methamphetamine
Tại Cơ quan điều tra, Vũ Khánh T khai nhận: Vào khoảng tháng 08/2023 T có nhu cầu sử dụng ma túy tổng hợp nên T đã lên mạng xã hội để đăng bài viết muốn mua ma túy đá và ma túy hồng phiến (còn gọi là ma túy ngựa) về để sử dụng. Sau đó có 01 nữ giới sử dụng 01 tài khoản nhắn tin cho T, qua nói chuyện người này đồng ý bán cho T 02 (hai) viên ma túy tổng hợp hồng phiến cùng một ít ma túy đá với giá tiền là 500.000đ. Nữ giới này hẹn T đến khu vực Bảo tàng Phòng không không quân - đầu đường L - T - Hà Nội để giao bán ma túy cho T. Khoảng 20 giờ cùng ngày hôm đó, T đến khu vực Bảo tàng Phòng không không quân rồi liên hệ qua mạng xã hội với nữ giới trên. Tại đây T gặp 01 nữ giới khoảng 30 tuổi, đi xe máy, T biết đây là người bán ma túy nên T đã đưa cho người này số tiền là 500.000đ và nhận lại 01 (một) túi nilông màu đỏ bên trong có chứa tinh thể màu trắng và 02 (hai) viên nén hình tròn màu hồng. T cầm túi nilông có chứa ma túy này về nhà cất giấu và xóa ứng dụng mạng xã hội cùng tin nhắn giữa T và người nữ giới bán ma túy trên. Ngày 30/12/2023, T mang túi ma túy trên ra và sử dụng một ít ma túy đá tại nhà. Ngày 02/01/2024, do có người ở nhà nên T cầm túi nilông bên trong có chứa ma túy đá và ma tuý hồng phiến còn lại đi tìm nơi để sử dụng, khoảng 11 giờ 45 phút cùng ngày khi T đang đi bộ đến trước số A ngõ B phố V, phường K - quận T - TP . thì T bị lực lượng công an phường K kiểm tra phát hiện.
Tại Cáo trạng số 48/CT-VKSTX ngày 22/03/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân đã truy tố Vũ Khánh Thành về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Vũ Khánh T từ 15 đến 17 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy, tịch thu sung ngân sách nhà nước chiếc điện thoại di động đã thu giữ của bị cáo.
Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, xin được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 02/01/2024, tại khu vực số A ngõ B phố V, phường T, quận T, Hà Nội, Vũ Khánh T đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 0,297g ma tuý loại Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng tang vật. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân đã truy tố.
- [2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an và gây hậu quả xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy cần phải có mức hình phạt tương xứng, phù hợp để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
- [3] Khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng nhận thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- [4] Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo
- [5] Về xử lý vật chứng: Toàn bộ số ma túy đã thu giữ cần tịch thu tiêu hủy. Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh đã thu giữ của bị cáo, đó là tài sản của bị cáo sử dụng liên lạc hàng ngày, không liên quan đến tội phạm nên cần trả lại cho bị cáo.
- [6] Đối với người nữ giới bán ma túy cho T, T khai không rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ và xử lý.
- [7] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.
- [8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
3
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Căn cứ các điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Tuyên bố bị cáo Vũ Khánh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Xử phạt Vũ Khánh T 01 (một) năm 01 (một) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/01/2024.
- Về xử lý vật chứng: - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong dán kín có chữ ký của bị can Vũ Khánh T, giám định viên Vũ Việt C, cán bộ CAP. Khương Trung - Nguyễn Mạnh C1, người chứng kiến Nguyễn Khắc Đ và đóng dấu của Công an phường K tại các mép dán. Bên trong có: Khối lượng: 0,061 gam ma túy loại Methamphetamine. (Khối lượng thu giữ ban đầu là: 0,088 gam ma túy loại Methamphetamine. Phòng PC09 - C3 đã lấy mẫu giám định 0,027 gam); khối lượng viên nén: 0,157 gam ma túy loại Methamphetamine (Khối lượng thu giữ ban đầu là: 0,209 gam ma túy loại Methamphetamine. Phòng PC09 - C3 đã lấy mẫu giám định 0,052 gam).
Trả lại cho bị cáo Vũ Khánh T 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone màu xanh, số IMEI1: 352843115775456, số IMEI2: 352843115954601, bên trong có lắp sim thuê bao số: 0366489529 (đã qua sử dụng).
(Hiện vật chứng đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Xuân theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/5/2024)
- Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Ngọc |
4
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
5
6
7
|
Nơi nhận:
|
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Ngọc |
8
9
10
|
BỘ CÔNG AN – VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO – TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO – BỘ TƯ PHÁP ------ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ------ |
|
SỐ: 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC- TANDTC-BTP |
Hà Nội, ngày 14 tháng 11 năm 2015 |
THÔNG TƯ LIÊN TỊCH
SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỂM CỦA THÔNG TƯ LIÊN TỊCH
SỐ 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTPCAO, TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO, BỘ TƯ PHÁP HƯỚNG DẪN ÁP DỤNG MỘT SỐ QUY ĐỊNH TẠI CHƯƠNG XVIII “CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TÚY” CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999
Căn cứ Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009);
Căn cứ Nghị quyết số 96/2015/QH13 ngày 26/6/2015 của Quốc hội khóa XIII về tăng cường các biện pháp phòng, chống oan, sai và bảo đảm bồi thường cho người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự;
11
Bộ trưởng Bộ C4, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Thông tư liên tịch sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTPBộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật hình sự năm 1999 (sau đây viết gọn là Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT),
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT
1. Sửa đổi, bổ sung điểm a tiết 1.1 mục 1 Phần I như sau:
“a) Đối với các chất ma túy ở thể rắn được hòa thành dung dịch hoặc chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng thì không coi toàn bộ dung dịch hoặc dung dịch pha loãng này là chất ma túy ở thể lỏng mà cần xác định hàm lượng chất ma túy trong dung dịch để tính, trọng lượng chất ma túy đó.
Ví dụ: Thuốc phiện, hêrôin được hòa thành dung dịch thì không coi toàn bộ dung dịch này là chất ma túy ở thể lỏng mà cần xác định hàm lượng moócphin cùng với các thành phần khác của thuốc phiện trong dung dịch để tính trọng lượng của thuốc phiện hoặc xác định hàm lượng moócphin cùng với các thành phần khác của hêrôin để tính trọng lượng hêrôin".
2. Sửa đổi, bổ sung tiết 1.4 mục 1 Phần I như sau:
"1.4. Trong mọi trường hợp, khi thu giữ được các chất nghi là chất ma túy hoặc tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy thì đều phải trưng cầu giám định để xác định loại và trọng lượng chất ma túy, tiền chất thu giữ được. Bắt buộc phải trưng cầu giám định hàm lượng đẻ xác định trọng lượng chất ma túy trong các trường hợp sau:
- C2 ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể rắn được hòa thành dung dịch;
- C2 ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng;
- Xái thuốc phiện;
- T1 gây nghiện, thuốc hướng thần;
Ngoài các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d tiết 1.4 Mục này, nếu có căn cứ và xét thấy cần thiết, Tòa án trực tiếp trưng cầu giám định để bảo đảm việc xét xử đúng pháp luật.
Nếu chất được giám định không phải là chất ma túy hoặc không phải là tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy, nhưng người thực hiện hành vi phạm tội ý thức rằng chất đó là chất ma túy hoặc chất đó là tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy, thì tùy hành vi phạm tội cụ thể mà truy cứu trách nhiệm hình sự người đó theo tội danh quy định tại khoản 1 của điều luật tương ứng đối với các tội phạm về ma túy.
Trường hợp một người biết là chất ma túy giả nhưng làm cho người khác tưởng là chất ma túy thật nên mua bán, trao đổi... thì người đó không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm về ma túy mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 Bộ luật Hình sự, nếu thỏa mãn các dấu hiệu khác nữa trong cấu thành tội phạm của tội này.
Trường hợp không thu giữ được vật chứng là chất ma túy, tiền chất nhưng có căn cứ xác định được trọng lượng chất ma túy, tiền chất mà người phạm tội đã mua bán, vận chuyển, tàng trữ hoặc chiếm đoạt thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội danh và điều khoản tương ứng.”
Điều 2. Quy định chuyển tiếp
1. Đối với người thực hiện hành vi phạm tội trước ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành, nếu các hướng dẫn trong Thông tư liên tịch này làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự so với các hướng dẫn trong Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT thì được áp dụng khi điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
2. Đối với các trường hợp mà người phạm tội đã bị kết án đúng theo Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT và bản án đã có hiệu lực pháp luật thì không áp dụng hướng dẫn của Thông tư liên tịch này để kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm.
Điều 3. Hiệu lực thi hành
Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 30 tháng 12 năm 2015. Bãi bỏ các hướng dẫn tại điểm đ tiết 3.7 mục 3 Phần II; điểm b tiết 7.3 mục 7 Phần II; mục 8 Phần II của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT.
Điều 4. Trách nhiệm thi hành
1. Các cơ quan, đơn vị liên quan chịu trách nhiệm thi hành và tổ chức thực hiện hướng dẫn tại Thông tư liên tịch này.
2. Trong quá trình thực hiện Thông tư liên tịch nếu có khó khăn, vướng mắc, các cơ quan, đơn vị liên quan phản ánh về Bộ C4, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp để có hướng dẫn kịp thời.
12
13
Bản án số 76/2024/HSST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, TP.HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 76/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, TP.HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Khánh Thành phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
