Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 76/2025/HS-ST

Ngày: 26-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phú

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Chính;
  2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Hoa.

– Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Lý – Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại Hội trường số 6 – trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 90/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Đức T, sinh năm 1980, tại tỉnh Hưng Yên. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Nơi đăng ký thường trú: Thôn H, xã S, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Nơi ở hiện nay: xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Thiên Chúa. Trình độ học vấn: Lớp 04/12. Nghề nghiệp: Không. Họ tên cha: Nguyễn Thế V, năm sinh 1955 (còn sống). Họ tên mẹ: Chu Thị B, sinh năm 1959 (còn sống). Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Họ tên vợ: Vũ Thị Mỹ N, sinh năm 1978 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2005. Trần Thị M, sinh năm 1984 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2014. C sống như vợ chồng với chị Nguyễn Thị Thu S, sinh năm 1977 và có 01 con – cháu Nguyễn Bảo H, năm sinh: không rõ. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

– Ngày 18/12/2009, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng) về tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Bị cáo chấp hành xong bản án ngày 06/3/2014.

– Ngày 08/5/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 07 tháng tù về tội “Đánh bạc” quy định tại Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Bị cáo chấp hành xong bản án ngày 06/7/2014.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 20/8/2024 và bị tạm giữ, chuyển tạm giam từ ngày 29/8/2024 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Đ. (có mặt tại phiên tòa).

2. Nguyễn Văn T1, sinh năm 1977, tại tỉnh Thái Bình. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Nơi cư trú: 181/3, tổ A, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Thiên chúa. Trình độ học vấn: Lớp 08/12. Nghề nghiệp: Xây dựng. Họ tên cha: Nguyễn Xuân B1, năm sinh 1947 (còn sống). Họ tên mẹ: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1954 (còn sống). Gia đình có 03 anh, chị em, bị cáo là con thứ 3. Họ và tên vợ: Nguyễn Thị Như H2, sinh năm 1980 và có 05 con, lớn nhất sinh năm 2006 và nhỏ nhất 2016. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 20/8/2024 và bị tạm giữ, chuyển tạm giam từ ngày 29/8/2024 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B. (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung vụ án:

Nguyễn Đức T, Nguyễn Văn T1 là người sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 16/8/2024, T đến khu vực Cầu L thuộc xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai mua của đối tượng tên T2 (không rõ lai lịch) 01 gói ma túy tổng hợp với giá 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng), mục đích để sử dụng. Sau đó, T mang gói ma túy vừa mua được đến bãi đất trống gần Cầu L lấy 01 phần ma túy ra sử dụng, phần còn lại T cất giấu trong túi quần để sử dụng dần.

Đến khoảng 13 giờ ngày 20/8/2024, T cất giấu gói ma túy nêu trên vào túi quần rồi đi xe Buýt tại từ khu vực Cầu L đến C thuộc phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai gặp H3 (bạn của T, không rõ lai lịch) để mượn xe mô tô biển số 60B8-532.57 đi xin việc làm.

Đến khoảng 14 giờ 42 phút cùng ngày, T gọi điện thoại cho T1 nhờ T1 xin việc làm thì được T1 hướng dẫn đến phòng 108 nhà nghỉ “Ánh V" tại B, tổ G, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để gặp T1 xin việc làm.

Đến khoảng 14 giờ 50 phút cùng ngày, T đến phòng 108 nhà nghỉ “Ánh V” địa chỉ nêu trên gặp T1. Sau đó, T nói cho T1 biết, T có mang theo ma túy và rủ T1 cùng sử dụng thì T1 đồng ý. T1 lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 nỏ thủy tinh, 01 bình thủy tinh, 01 ống hút nhựa và 01 bật lửa từ trong ba lô của T đưa cho T, T lấy gói ma túy trong túi quần ra đổ hết ma túy vào nỏ thủy tinh rồi dùng quẹt đốt (nấu) ma túy để cả hai cùng sử dụng. Đến khoảng 15 giờ 45 phút cùng ngày, khi T, T1 đang sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Công an phường T phát hiện bắt quả tang, lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý.

Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Đức T, Nguyễn Văn T1 đã khai nhận hành vi phạm tội như trên

Biên bản bắt người phạm tội quả tang (bút lục 03-04).

Lời khai, biên bản hỏi cung bị cáo Nguyễn Đức T (bút lục 101-112), Nguyễn Văn T1 (125-136).

Biên bản đối chất (bút lục 20-21).

Lời khai người làm chứng (bút lục 138).

2. Vật chứng của vụ án:

  • - 01 nỏ bằng thủy tinh bên trong nỏ có chất màu trắng, 01 bình thủy tinh, 01 ống hút bằng nhựa, 01 bật lửa.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Vivo, số Imei 867251054656724; 01 xe mô tô biển số 60B8-532.57, số khung RLHJF450DY167746 của Nguyễn Đức T.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Galaxy M02, số Imei 350711263034678 của Nguyễn Văn T1.
  • - 01 USB chứa hình ảnh Camera ghi nhận hình ảnh Nguyễn Văn T1, Đinh Đức T3 đến thuê phòng 108 nhà nghỉ Á. (Lưu kèm theo hồ sơ vụ án).

(Bút lục 04, 13, 14, 16).

3. Kết luận giám định:

Tại Kết luận giám định số 1674 /KL-KTHS ngày 27/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: Mẫu chất màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng. (Bút lục số 19).

Tại phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy Nguyễn Đức T, Nguyễn Văn Thái D tích với chất ma túy, loại Methamphetamine. (bút lục 97, 121)

4. Các vấn đề khác:

Kết quả điều tra xác định xe mô tô biển số 60B8-532.57, số khung RLHJF450DY167746 như sau:

  • - Biển số 60B8-532.57 là của xe mô tô hiệu SH Mode, số máy JF51E0092535, số khung RLHJF5102DY092511 do anh Chu Ngọc T4 (sinh năm 1958, ngụ ấp T, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai) đăng ký sở hữu. Ông T4 khai: Khoảng tháng 9/2022, ông T4 điều khiển xe mô tô nêu trên từ thành phố B về T bị rơi mất biển số 60B8-532.57.
  • - Số khung RLHJF450DY167746, số máy JF45E0354164 là của xe mô tô biển số 60F1-688.49 do chị Bùi Thị Mỹ L (sinh năm 1990, ngụ tại tổ H, khu phố B, phường T, thành phố B) đăng ký sở hữu. Chị L khai khoảng tháng 07/20216, chị L bán xe mô tô nêu trên cho anh Nguyễn Âu Hoàng N1 (sinh năm 1996, ngụ tại khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) có lập giấy tờ mua bán nhưng bị thất lạc. Anh N1 khai khoảng tháng 08/2022, khi anh N1 điều khiển xe mô tô nêu trên đến đoạn đường thuộc khu vực Ngã ba P thuộc phường T, thành phố B do không làm chủ tay lái dẫn đến tự té ngã và được người dân đưa về nhà. Sau đó, anh đến địa điểm trên để lấy xe mô tô nhưng không tìm thấy và không trình báo sự việc.

Nguyễn Đức T khai mượn xe mô tô của anh H3 (không rõ lai lịch) để đi xin việc làm. Do khác nhau về số máy, số khung giữa xe mô tô đã thu giữ với kết quả xác minh nêu trên, chưa xác định được chủ sở hữu, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tách xe mô tô ra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau. (Bút lục 146-154).

5. Truy tố của Viện kiểm sát:

  • - Bản cáo trạng số: 123/CT-VKSBH-HS ngày 03 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai truy tố các bị cáo Nguyễn Đức T, Nguyễn Văn T1, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
  • - Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự (áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Văn T1).
    • + Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đến 03 (ba) năm tù;
    • + Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Xử lý vật chứng và buộc các bị cáo chịu án phí theo quy định.

6. Tại phiên tòa, các bị cáo trình bày: các bị cáo thống nhất với hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến gì đối với kết luận giám định.

7. Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Quá trình điều tra, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều phù hợp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu có tại hồ sơ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản kiểm tra hành chính và thu giữ tang vật, kết quả test ma túy của các bị cáo, Bản kết luận giám định, lời khai của các bị cáo, lời khai của người làm chứng. Đã có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 15 giờ 45 phút, ngày 20/8/2024 tại phòng 108 nhà nghỉ “Ánh V” thuộc số 27A, tổ G, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Đức T và Nguyễn Văn T1 có hành vi tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma túy (theo Kết luận giám định số 1674 /KL-KTHS ngày 27/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận là ma túy, loại Methamphetamine) thì thì bị Công an phường T phát hiện bắt quả tang, lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý.

Như vậy, các bị cáo đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục các chất cấm theo quy định của Chính phủ. Do đó, hành vi của các bị cáo Nguyễn Đức T, Nguyễn Văn T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố và viện dẫn.

Các bị cáo phạm tội đồng phạm giản đơn, tuy nhiên mỗi bị cáo đóng vai trò khác nhau:

  • + Nguyễn Đức T là người khởi xướng, rủ rê Nguyễn Văn T1 sử dụng ma túy, cung cấp ma túy để T và T1 cùng sử dụng, thực hiện tích cực hành vi phạm tội.
  • + Nguyễn Văn T1 là người cung cấp dụng cụ sử dụng ma túy và địa điểm thực hiện hành vi phạm tội.

- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • + Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.
  • + Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Nguyễn Văn T1 chưa có tiền án, tiền sự nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự, trị an và an ninh xã hội, xâm phạm đến chính sách của Nhà nước Việt Nam về đấu tranh phòng ngừa và loại bỏ ma túy ra khỏi đời sống. Hội đồng xét xử xét thấy, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm mục đích răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Đồng thời, Hội đồng xét xử cũng xem xét về nhân thân, vai trò của các bị cáo để quyết định hình phạt thể hiện sự nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.

[3] Về các vấn đề khác:

Đối với đối tượng tên T2 (chưa rõ lai lịch) có hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Do chưa rõ lai lịch của T2, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh, xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.

Đối với anh Châu Tấn Đ là quản lý nhà nghỉ “Ánh Vân Phát” không biết T và P sử dụng phòng số 108 để “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” nên không xử lý là phù hợp.

[4] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 nỏ thủy tinh được niêm phong trong gói niêm phong số 1674/KL-KTHS ngày 27/8/2024 của phòng K Công an tỉnh Đ, 01 bình thủy tinh, 01 ống hút bằng nhựa, 01 bật lửa.
  • - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức T 01 điện thoại di động hiệu Vivo, số Imei 867251054656724; trả lại cho Nguyễn Văn T1 01 điện thoại di động hiệu Galaxy M02, số Imei 350711263034678 do không liên quan đến vụ án.

(Tất cả các vật chứng nêu trên được thể hiện tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).

[5] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Đức T;

Căn cứ khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Văn T1;

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đức T, Nguyễn Văn T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

  • - Xử phạt Nguyễn Đức T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 20/8/2024.
  • - Xử phạt Nguyễn Văn T1 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 20/8/2024.

2. Về xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 nỏ thủy tinh được niêm phong trong gói niêm phong số 1674/KL-KTHS ngày 27/8/2024 của phòng K Công an tỉnh Đ, 01 bình thủy tinh, 01 ống hút bằng nhựa, 01 bật lửa.
  • - Trả lại cho Nguyễn Đức T 01 điện thoại di động hiệu Vivo, số Imei 867251054656724; trả lại cho Nguyễn Văn T1 01 điện thoại di động hiệu Galaxy M02, số Imei 350711263034678 do không liên quan đến vụ án.

(Tất cả các vật chứng nêu trên được thể hiện tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Nguyễn Đức T, Nguyễn Văn T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí.

4. Quyền kháng cáo:

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Biên Hòa;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự – Công an thành phố Biên Hòa;
  • - Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Thị Phú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 76/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức Thịnh + Đồng phạm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger