TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 76/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 19 - 8 - 2024
V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vang
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Công Dung
Bà Lê Thị Tuyết Mai
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Trương– Thư ký Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông/Bà Tô Minh Phú - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 63/2024/TLST - HNGĐ, ngày 15 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 217/2024/QĐXXST - HNGĐ, ngày 28 tháng 6 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 166/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 25 tháng 7 năm 2024, giữa:
- Nguyên đơn: - Bà Dương Kiều D, sinh năm 1990. Yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Địa chỉ: S, khu vực T, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.
Chỗ ở hiện tại: 90, đường số C, khu dân cư Đ y dược, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: - Ông Nguyễn Tấn L, sinh năm 1976. Vắng mặt
Địa chỉ: S, khu vực T, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề ngày 15 tháng 02 năm 2024 và trong quá trình tố tụng nguyên đơn trình bày:
- Về hôn nhân: Vào năm 2019 bà Dương Kiều D và ông Nguyễn Tấn L tự nguyện tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, quận C, thành phố Cần Thơ. Quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn do ông L không quan tâm chăm sóc vợ con, không cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình, mục đích hôn nhân không đạt được, đã nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Hiện tại bà D và ông L không còn chung sống với nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Tấn L.
- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Minh C, sinh ngày 20 tháng10 năm 2021, giới tính: Nữ. Hiện tại bà D đang trực tiếp nuôi cháu Minh C và yêu cầu tiếp tục nuôi con chung.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn bà Dương Kiều D có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện:
- + Về hôn nhân: Yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Tấn L
- + Về con chung: Yêu cầu nuôi con chung tên Nguyễn Ngọc Minh C, sinh ngày 20 tháng10 năm 2021, giới tính: Nữ.
- +Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.
- + Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Tấn L đã được cấp tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định nhưng vẫn vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- + Về tuân theo pháp luật tố tụng: Việc thụ lý giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký cũng như của Hội đồng xét xử ngày hôm nay là đúng trình tự thủ tục luật định.
- + Về việc giải quyết vụ án: Các yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử sơ thẩm thấy.
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Dương Kiều D khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con với ông Nguyễn Tấn L. Bị đơn có nơi cư trú tại quận C, thành phố Cần Thơ. Do đó, quan hệ tranh chấp xác định là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Dương Kiều D có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Theo kết quả xác minh ông Nguyễn Tấn L có đăng ký hộ khẩu thường trú và đang sinh sống tại số S, khu vực T, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ. Tòa án tiến hành cấp, tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Tấn L theo quy định pháp luật nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án và xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
[2] Về nội dung tranh chấp: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn giao nộp, thu thập trong quá trình giải quyết vụ án.
Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Dương Kiều D và ông Nguyễn Tấn L tự nguyện tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Do đó, hôn nhân giữa bà D và ông L là hợp pháp. Trong thời kỳ hôn nhân thì phát sinh mâu thuẫn do ông L không quan tâm chăm sóc vợ con, không cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình, mục đích hôn nhân không đạt được đã nhiều lần hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không thành. Quá trình tố tụng, Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng cho ông L theo quy định nhưng vẫn vắng mặt và cũng không có văn bản ý kiến, yêu cầu phản bác lại yêu cầu của bà Dương Kiều D. Hiện tại, bà D và ông L vẫn không giải quyết được mâu thuẫn, không còn chung sống với nhau. Bà D vẫn giữ yêu cầu ly hôn. Từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa bà D và ông L đã đến mức trầm trọng, đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Dương Kiều D đối với ông Nguyễn Tấn L.
[2.2] Về con chung: Bà D và ông L có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Minh C, sinh ngày
20 tháng10 năm 2021, giới tính: Nữ, bà D yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, con chung đang được bà D trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, phát triển bình thường. Ông L đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và cũng không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu nuôi con chung của bà D. Mặt khác, theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình: “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”. Do đó, giao con chung cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định pháp luật và hoàn cảnh sống.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho ông Nguyễn Tấn L theo quy định pháp luật không ai được cản trở..
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà D không yêu cầu ông Lợi dưỡng nuôi con. Đây là sự tự nguyện của đương sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.4] Về tài sản chung: Bà D xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết
[2.5] Về nợ chung: Bà D xác nhận không có nên không yêu cầu giải quyết.
[3] Về án phí án hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Dương Kiều D phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Kiều D đối với ông Nguyễn Tấn L.
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Dương Kiều D ly hôn với ông Nguyễn Tấn L.
[2]. Về con chung: Nguyễn Ngọc Minh C, sinh ngày 20 tháng10 năm 2021, giới tính: Nữ cho bà Dương Kiều D trực tiếp nuôi dưỡng.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho ông Nguyễn Tấn L không ai được cản trở.
[3]. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyễn Tấn L không phải cấp dưỡng nuôi con.
[4]. Về tài sản chung: Bà Dương Kiều D xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết.
[5]. Về nợ chung: Bà Dương Kiều D xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết.
[6]. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Dương Kiều D phải nộp 300.000 đồng. Chuyển tiền tạm ứng án phí sơ thẩm 300.000 đồng bà Dương Kiều D đã nộp theo biên lai thu số 0003349 ngày 10 tháng 4 năm 2024 của chi cục thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ thành án phí. Bà Dương Kiều D đã nộp xong.
[7]. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Hồng Vang |
Bản án số 76/2024/HNGĐ-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 76/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương thị kiều Diễm
