Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TUY HÒA

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2024/HNGĐ-ST

Ngày 19-7-2024

V/v "Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Vân.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo và ông Nguyễn Tấn Phát.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phụng Kiều – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hưng – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 124/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2024/QĐXX-ST ngày 06 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Võ Duy K, sinh năm 1981; Địa chỉ: H N, Phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Chị Bùi Thị Thu C, sinh năm 1989; Địa chỉ: H N, Phường C, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn, biên bản hòa giải và đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn anh Võ Duy K trình bày: Nguyên đơn và bị đơn chị Bùi Thị Thu C tự nguyện tìm hiểu và kết hôn vào năm 2015, được Ủy ban nhân dân Phường C1, thành phố T, tỉnh Phú Yên cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 36/2015, quyển số 01/2015, ngày 13 tháng 11 năm 2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống không hạnh phúc. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Hiện vợ chồng đã sống ly thân, không ai còn quan tâm và chăm sóc lẫn nhau. Nay xét thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyên đơn yêu cầu được giải quyết ly hôn với bị đơn.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung tên Võ Thiên K1, sinh ngày 17/11/2014; Võ Điền A, sinh ngày 04/6/2019 (hiện đang ở với nguyên đơn). Ly hôn, nguyên đơn xin nhận nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu bị đơn phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn chị Bùi Thị Thu C vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, giữ nguyên ý kiến trình bày. Bị đơn vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn anh Võ Duy K được ly hôn với bị đơn chị Bùi Thị Thu C. Về con chung: Giao hai con chung tên Võ Thiên K1, sinh ngày 17/11/2014; Võ Điền A, sinh ngày 04/6/2019 (hiện đang ở với nguyên đơn) cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng, bị đơn không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn anh Võ Duy K xin ly hôn với bị đơn chị Bùi Thị Thu C là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn cư trú tại thành phố T nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

[1.2] Về giải quyết vắng mặt của đương sự: Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa đã tiến hành triệu tập hợp lệ bị đơn để hòa giải và xét xử nhưng bị đơn vắng mặt, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng Dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn anh Võ Duy K và bị đơn chị Bùi Thị Thu C tự nguyện tìm hiểu và kết hôn vào năm 2015, được Ủy ban nhân dân Phường C1, thành phố T, tỉnh Phú Yên cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 36/2015, quyển số 01/2015, ngày 13 tháng 11 năm 2015 là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, phát sinh những mâu thuẫn như nguyên đơn trình bày. Xét thấy, mâu thuẫn giữa các đương sự đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nguyên đơn anh Võ Duy K được ly hôn với bị đơn chị Bùi Thị Thu C.

[2.2] Về con chung: Vợ chồng có hai con chung tên Võ Thiên K1, sinh ngày 17/11/2014; Võ Điền A, sinh ngày 04/6/2019. Ly hôn, nguyên đơn xin nhận nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu bị đơn phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với nguyện vọng của cháu K1 và hiện hai con chung do nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng là thực tế. Do đó, để ổn định tâm sinh lý của các con nên Hội đồng xét xử giao hai con chung tên Võ Thiên K1, sinh ngày 17/11/2014; Võ Điền A, sinh ngày 04/6/2019 (hiện đang ở với nguyên đơn) cho nguyên đơn anh Võ Duy K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bị đơn chị Bùi Thị Thu C không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[2.3] Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn anh Võ Duy K được ly hôn với bị đơn chị Bùi Thị Thu C.

Về con chung: Giao hai con chung tên Võ Thiên K1, sinh ngày 17/11/2014; Võ Điền A, sinh ngày 04/6/2019 (hiện đang ở với nguyên đơn) cho nguyên đơn anh Võ Duy K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bị đơn chị Bùi Thị Thu C không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xét.

Về án phí HNGĐ-ST: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Nguyên đơn anh Võ Duy K phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0002390 ngày 08 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND TP. Tuy Hòa;
  • - Chi cục THADS TP. Tuy Hoà;
  • - UBND Phường 3, TP. Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thanh Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/HNGĐ-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 76/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn Võ Duy Kha và bị đơn Bùi Thị Thu Chức
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger