Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG


CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 76/2024/HS-ST

Ngày 19 tháng 4 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Tú

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tư

Bà Nguyễn Thị Biên

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thế Thiện - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Đặng Minh Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 04 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 57/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2024/QĐXXST- HS ngày 04/4/2024 đối với các bị cáo:

1. Phạm Văn T, sinh năm 1992; Tên gọi khác: Không

Nơi đăng ký HKTT: Thôn T, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Chỗ ở: TDP M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Giới tính: Nam. Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 12/12. Bố: Phạm Văn M, sinh năm 1962. Mẹ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1963. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất. Vợ: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1996 (đã ly hôn). Có 1 con sinh năm 2017. Tiền sự: Không .

Nhân thân: Ngày 28/12/2024 bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Y, tỉnh Bắc Giang khởi tố về tội “Trộm cắp tài sản”.

Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 90/2023/HS-ST ngày 31/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo phạm tội mới trong thời gian thử thách.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/11/2023. Hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B - Có mặt.

2. Vy Văn T3, sinh năm 1998; Tên gọi khác: Không.

Nơi đăng ký HKTT: Thôn K, xã K, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Chỗ ở: TDP H, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không. Giới tính: Nam. Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 12/12. Bố: Vy Văn T4, sinh năm 1974. Mẹ: Hứa Thị M1, sinh năm 1975. Gia đình có 02 chị em, bị cáo là thứ hai. Vợ: Mè Thị N, sinh năm 2003. Có 01 con sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/11/2023. Hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B - Có mặt.

3. Lưu Văn T5, sinh năm 2002; Tên gọi khác: Không.

Nơi đăng ký HKTT: Thôn P, xã Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Chỗ ở: TDP H, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không. Giới tính: Nam. Nghề nghiệp: Công nhân; Văn hóa: 9/12. Bố: Lưu Văn P, sinh năm 1971 (đã chết). Mẹ: Vy Thị L, sinh năm 1970. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ hai. Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/11/2023. Hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B - Có mặt.

4. Đặng Trung H, sinh năm 1992; Tên gọi khác: Không.

Nơi đăng ký HKTT: Số nhà A, đường C, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Chỗ ở: TDP M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Giới tính: Nam. Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 6/12. Bố: Đặng Văn T6, sinh năm 1957 (đã chết). Mẹ: Nguyễn Thị T7, sinh năm 1955. Gia đình có 05 anh em, bị cáo là thứ tư. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/11/2023. Hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B - Có mặt.

5. Đào Công L1, sinh năm 2001; Tên gọi khác: Không.

Nơi đăng ký HKTT: Khu H, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Chỗ ở: TDP M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Giới tính: Nam. Nghề nghiệp: Quản lý quán K; Văn hóa: 9/12. Bố: Đào Công T8, sinh năm 1974. Mẹ: Vi Thị M2, sinh năm 1978. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất. Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/11/2023 đến ngày 04/12/2023 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt.

* Bị hại:

  • - Anh Trần Văn H1, sinh năm 1989 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: thôn T, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
  • - Anh Tăng Văn H2, sinh năm 1986 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: thôn Đ, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
  • - Chị Nông Thị Kim A, sinh năm 1998 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: thôn T, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
  • - Chị Vi Thị T9, sinh năm 2005 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang
  • - Anh Phạm Hoàng H3, sinh năm 1997 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: số A, ngõ A, đường G, tổ N, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • - Chị Hứa Thị M1, sinh năm 1975 (có mặt)
  • Địa chỉ: Thôn K, xã K, huyện L, tỉnh Lạng Sơn.
  • - Anh Lưu Văn T10, sinh năm 1992 (có mặt)
  • Địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Phạm Văn T, sinh năm 1992, trú tại thôn T, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang và Vy Văn T3, sinh năm 1998, trú tại thôn K, xã K, huyện L, tỉnh Lạng Sơn quen biết nhau qua mạng xã hội và đều thuê trọ tại phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Lưu Văn T5, sinh năm 2002, trú tại thôn P, xã Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn (là em họ T3) thuê trọ tại TDP H, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang để đi làm công nhân. Đặng Trung H, sinh năm 1992, trú tại số nhà A, đường C, phường T, thành phố B là bạn của T. H thuê trọ tại TDP M, phường N, thị xã V để làm nghề sơn. Đến khoảng tháng 10/2023, T chuyển đến ở cùng phòng trọ của H. Đào Công L1, sinh năm 2001, trú tại khu H, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ có quen biết Vy Văn T3 từ trước. L1 thuê trọ tại phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang làm nhân viên quán Karaoke. Trong tháng 11/2023, T, T5ờng đã cùng nhau trộm cắp xe máy trên địa bàn thành phố B sau đó đem đi bán lấy tiền chi tiêu. Đặng Trung H giúp T tiêu thụ 01 chiếc xe máy trộm cắp; Đào Công L1 đã tiêu thụ 01 chiếc xe máy do T3 trộm cắp, cụ thể như sau:

1. Hành vi trộm cắp tài sản của Phạm Văn T, Vy Văn T3 và hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có của Đặng Trung H ngày 17/11/2023.

Ngày 15/11/2023, Vy Văn T3Phạm Văn T ngồi uống nước cùng nhau tại TDP M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Hai người rủ nhau đi đến thành phố B trộm cắp xe máy bán lấy tiền chi tiêu.

Khoảng 16 giờ ngày 17/11/2023, T3 gọi điện qua Z rủ T đi trộm cắp xe máy thì T đồng ý. T3 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Excitex biển số 14H1-5691 đến nơi T thuê trọ đón T rồi đến thành phố B đi trên các tuyến đường tìm tài sản trộm cắp. Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, hai người nhìn thấy tại bãi gửi xe trên vỉa hè có dựng nhiều xe máy của khách đến dự đám cưới anh Tăng Văn T11, sinh năm 1989 ở thôn Đ, xã T, thành phố B nên nảy sinh ý định trộm cắp. Quan sát thấy không có ai trông coi, T bảo T3 dừng xe cách bãi gửi xe khoảng 30m và đứng cảnh giới còn T một mình đi đến vị trí để chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 98B1-125.95 trong bãi gửi xe. Chiếc xe này là của anh Trần Văn H1, sinh năm 1989, trú tại thôn T, xã T, thành phố B đến dự đám cưới để tại đó. T ngồi xuống vị trí trước đầu xe, dùng tay phải giật rắc cắm ổ khóa điện rồi nối dây điện màu đỏ và dây điện màu đen vào nhau. Sau đó, T đề nổ máy rồi điều khiển xe đi đến chỗ T3 đứng chờ; mỗi người điều khiển 01 xe máy đi đến đường P thuộc địa phận thôn A, xã T, thành phố B. Tại đây, T cất giấu xe máy đã trộm cắp ở bụi cây ven đường.

Sau đó, T bảo T3 quay lại bãi gửi xe ở đám cưới nhà anh T11 để tiếp tục trộm cắp. T3 đi xe máy chở T quay lại cách bãi gửi xe khoảng 30m thì dừng lại đứng cảnh giới. T đi đến vị trí để chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave biển số 98B3-663.03 trong bãi gửi xe. Chiếc xe này là của anh Tăng Văn H2, sinh năm 1986, trú tại thôn Đ, xã T, thành phố B đến dự đám cưới để ở đó. T ngồi xuống vị trí trước đầu xe máy, dùng tay giật rắc cắm ổ khóa điện phía dưới mặt nạ của xe ra rồi nối dây điện màu đỏ và dây điện màu đen vào với nhau. T đề nổ máy điều khiển xe đi xuống đường rồi cùng T3 đi đến vị trí cất giấu chiếc xe máy đã trộm cắp trước đó.

Tại đây, T3 lấy chiếc cờ lê trong cốp xe của T3 rồi cùng T tháo biển số xe 98B3-663.03. Sau khi tháo biển số xong, T gọi điện qua Zalo cho Đặng Trung H nhờ đến siêu thị G, thành phố B giúp đi xe máy đem về phòng trọ. H đồng ý và điều khiển xe mô tô của H đến thành phố B. Trên đường đi, H gọi điện cho anh Nguyễn Công H4, sinh năm 1991 ở số nhà A, đường T, phường T, thành phố B nhờ ra siêu thị G đi xe máy của H về nhà hộ. Một lúc sau, anh H4 đi bộ ra gặp H và đi xe mô tô của H về nhà anh H4 còn H đi bộ đến trước cửa siêu thị G chờ T. Khoảng 10 phút sau, T điều khiển xe máy BKS 14H1-5691 đến đón đưa H đến địa điểm cất giấu xe máy trộm cắp. T3T đi vào chỗ cất giấu chiếc xe 98B1-125.95 tháo biển số xe rồi dắt xe ra đường. T bảo H đi hộ chiếc xe Honda Wave (đã tháo biển số 98B3-663.03) về tổ dân phố M, phường N, thị xã V. H đồng ý và điều khiển xe đi về trước. T3 điều khiển xe mô tô BKS 14H1-5691 đi về phòng trọ của T3 còn T điều khiển xe (đã tháo biển 98B1-125.95) đi theo sau. Trên đường về, T đã vứt hai chiếc biển số xe đã tháo ra trước đó.

Đối với Đặng Trung H đi đến cổng số 3, tổ dân phố M thì dừng lại chờ. H định tắt máy xe nhưng thấy xe không có chìa khóa điện nên gọi điện thoại cho T hỏi lý do xe không có chìa khóa điện thì T trả lời: “Tao vừa mới làm được”. H biết chiếc xe này là do T đã trộm cắp nên hỏi “có liên lụy đến tao không” thì T nói: “Mày có làm đâu mà sợ, đứng chờ tao”. Một lúc sau, T đi đến bảo H đứng chờ còn T đi về phòng trọ sử dụng điện thoại Iphone 7 Plus đăng lên mạng xã hội Facebook rao bán 02 xe mô tô vừa trộm cắp thì có một người không quen biết hỏi mua 02 chiếc xe trên với giá là 7.500.000 đồng và hẹn giao xe ở huyện T, tỉnh Bắc Ninh. T điều khiển xe mô tô đi ra gặp H rủ đi xe đến Bắc Ninh để bán. H hỏi: “có sợ không” thì T nói: “mày có làm gì đâu mà sợ, mày đi hộ tao mà, đi về tao trả tiền công”. H biết là đi bán là xe do TT3 trộm cắp nhưng vẫn đồng ý. Sau đó, T gọi điện cho T3 bảo cùng đi Bắc Ninh bán xe rồi chở TH về. T3 điều khiển xe máy biển số 14H1-5691 đi ra khu vực cổng công ty H10 gặp TH. Mỗi người đi một xe máy đi đến bãi đất trống không rõ địa chỉ thuộc huyện T, tỉnh Bắc Ninh. T3 đứng ở ngoài đường chờ. TH mỗi người đi 01 xe máy vào bên trong để bán xe. Khi đến nơi, T bảo H để xe máy tại đây để bán và đi ra ngoài đường chờ. T khai đã bán 02 chiếc xe máy trộm cắp cho một người nam thanh niên không quen biết được 7.500.000 đồng. Sau khi bán xong, T điều khiển xe máy BKS 14H1-5691 chở T3H đi về. Trên đường đi, T bảo T3 bán được 7.500.000 đồng và sẽ chia cho T3 2.000.000 đồng. T3 bảo T đi đến cửa hàng mua bán điện thoại của anh Hoàng Ngọc H5, sinh năm 1998 ở tổ dân phố C, phường T, thị xã V để chuộc chiếc điện thoại di động mà T3 cầm cố cho anh H5 trước đó. Tại đây, T chuyển khoản trả anh H5 1.050.000 đồng để T3 chuộc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 2F. Tiếp đó, T chuyển khoản cho T3 950.000 đồng vào tài khoản số [...] của T3 mở tại ngân hàng V1. Sau đó, T3 điều khiển xe chở T, H đi về phòng trọ của T rồi ra về. T đưa cho H số tiền 200.000 đồng là tiền công H giúp đi xe máy trộm cắp đến Bắc Ninh bán cho khách.

Kết luận định giá tài sản số 231/KL-HĐĐG ngày 28/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:

- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn: vàng-đen-bạc, biển số 98B1-125.95, đã qua sử dụng, mua năm 2011 có giá trị thời điểm ngày 17/11/2023 là 7.500.000 đồng.

- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn xanh, biển số 98B3-663.03, đã qua sử dụng, mua năm 2021 có giá trị thời điểm ngày 17/11/2023 là 12.000.000 đồng.

Cơ quan điều tra đã cho T, T3, H xác định vị trí cất giấu xe mô tô trộm cắp ngày 17/11/2023 và vị trí giao xe cho H; vị trí tháo biển số 02 xe máy. Kết quả T, T3, H xác định vị ví cất giấu xe; vị trí T giao chiếc xe máy cho H đi về là tại khu vực ven đường P thuộc thôn A, xã T, thành phố B.

Cơ quan điều tra cho T, T3 xác định hiện trường nơi trộm cắp tài sản và thực nghiệm điều tra. Kết quả, T, T12 xác định đúng vị trí trộm cắp 02 chiếc xe mô tô và thực hiện thành thục các động tác trộm cắp 2 xe máy như đã khai, phù hợp với vị trí người bị hại khai bị trộm cắp xe.

Xác minh số tài khoản 0373336181 của Phạm Văn T mở tại ngân hàng M4 Chi nhánh B thấy ngày 17/11/2023 có chuyển khoản 1.050.000 cho Hoàng Ngọc H5 và chuyển 950.000 đồng cho Vy Văn T3.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Hứa Thị M1 là mẹ của Vy Văn T3 đã bồi thường cho anh Trần Văn H1 3.750.000 đồng và bồi thường cho anh Tăng Văn H2 6.000.000 đồng. Những người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt đối với T3 Anh H1 yêu cầu T bồi thường 3.750.000 đồng; anh H2 yêu cầu T bồi thường 6.000.000 đồng. Đến nay, T chưa bồi thường cho những người bị hại.

Đối với xe mô tô BKS 98B1-125.95 và xe mô tô BKS 98B3-663.03. T khai đã cho người không quen biết; đối với 02 biển số xe thì T khai đã vứt đi nhưng không rõ địa điểm nên không thu hồi được.

2. Hành vi trộm cắp tài sản của Phạm Văn T, Vy Văn T3Lưu Văn T5 ngày 18/11/2023.

Khoảng 14 giờ ngày 18/11/2023, Phạm Văn T đang chơi ở thành phố B thì gọi điện qua Zalo cho Vy Văn T3 hẹn khi nào T về đến cây xăng T thì đến đón rồi đi trộm xe máy thì T3 đồng ý.

Khoảng 16 giờ cùng ngày, T3 gọi điện thoại qua Z cho Lưu Văn T5 mục đích rủ T5 đi trộm cắp thì biết T5 đang ở phòng trọ. T3 điều khiển xe mô tô BKS 14H1-5691 đến phòng trọ đón T5 rồi đi ra khu vực cổng công ty H10 uống nước. Khoảng 30 phút sau, T gọi điện thoại cho T3 nói đã về đến cây xăng T24 và bảo đến đón. T3 đi xe máy chở T5 đến đón T rồi đi đến thành phố B. Khi đi đến ngã tư Quốc lộ A giao nhau Quốc lộ C thuộc địa phận xã D, thành phố B thì T3 bảo T5: “đi cùng anh lấy xe về, tối chia tiền”. T5 hiểu ý của T3 rủ đi trộm cắp xe máy nên đồng ý và trả lời “ừ”. Ba người đi đến quán nước ở phố C, xã D ngồi uống trà đá. Tại đây, T nói với mọi người chờ đến khoảng 7 đến 8 giờ tối sẽ đi trộm cắp xe máy. T3T5 đồng ý nhưng không nói gì. Khoảng 19 giờ cùng ngày, T3 điều khiển xe máy chở T5T đi vào trung tâm thành phố B tìm xe máy để trộm cắp. Khi đi qua cổng Trường phổ thông Dân tộc nội trú tỉnh B thì T nhìn thấy trên vỉa hè ở khu vực cổng trường có để nhiều xe máy nhưng không có người trông coi. Những chiếc xe máy này là của khách đến dự 30 năm ngày thành lập trường và để tại đó. T bảo T3 quay lại để trộm cắp. T3 đi xe quay lại đỗ trên vỉa hè rồi ba người xuống xe. T3 bảo T5 đi xe máy của T3 ra ngoài chờ. T5 điều khiển xe đi ra đầu đường T cách đó khoảng 30m đứng cảnh giới. T3T đi đến vị trí chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 98B3-879.00 của chị Nông Thị Kim A, sinh năm 1998, trú tại thôn T, xã D, thành phố B và chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 98E1-800.19 của chị Vi Thị T9, sinh năm 2005, trú tại thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang để trên vỉa hè. T3 đứng dựa vào yên chiếc xe mô tô biển số 98B3-879.00 còn T ngồi xuống trước đầu xe mô tô, dùng tay phải giật rắc cắm ổ khóa điện rồi nối dây điện màu đỏ và dây điện màu đen với nhau. Tiếp đó, T đi sang vị trí chiếc xe mô tô biển số 98E1-800.19 dùng tay giật rắc cắm ổ khóa điện ở dưới mặt nạ của xe rồi nối dây điện màu đỏ và dây điện màu đen với nhau. T ngồi lên xe biển số 98E1-800.19 còn T3 ngồi lên xe 98B3-879.00 đề nổ và điều khiển xe đi xuống đường. Sau khi trộm cắp xong, T3 gọi điện thoại bảo T5 đi về. Khi đi đến khu vực gần chung cư G thì ba người dừng lại. T3 lấy chiếc cờ lê tháo biển số 98B3-879.00 rồi cất vào trong cốp chiếc xe này. T dùng cờ lê tháo biển số 98E1-800.19 rồi vất biển số xe ở bãi đất trống gần đó. Sau đó, T, T3, T5 mỗi người đi một xe máy về phòng trọ. T kiểm tra trong cốp xe máy trộm cắp thấy có 01 giấy phép lái xe số 2412350037712 mang tên Vi Thị Thanh nên cất giấu giấy phép lái xe này ở phòng trọ còn T3 cất giấu biển số xe 98B3-879.00 tại phòng trọ của T3.

Buổi sáng ngày hôm sau, T truy cập vào mạng xã hội Facebook đăng bán hai chiếc xe máy đã trộm cắp thì có một tài khoản nhắn tin đồng ý mua chiếc xe máy của chị T9 với giá 8.000.000 đồng, hẹn giao xe ở khu vực đầu cầu N, thành phố B và một tài khoản nhắn tin mua chiếc xe của chị Kim A với giá 6.000.000 đồng, hẹn giao xe ở bến xe khách Bắc Giang. Khoảng 12 giờ cùng ngày, T điều khiển xe của chị T9 đi đến đầu cầu N bán cho một thanh niên không quen biết được 8.000.000 đồng. Sau đó, T gọi điện thoại bảo T3 đi đến bến xe khách B bán chiếc xe đã trộm cắp của chị Kim A. T3 điều khiển xe BKS 14H1-5691 còn T điều khiển xe của chị Kim A đi đến bến xe khách B. Tại đây, T đã bán chiếc xe cho một thanh niên không quen biết được 6.000.000 đồng và đưa cho T3 toàn bộ số tiền trên. T3 chia cho T5 1.000.000 đồng; số tiền còn lại T3 chi tiêu hết.

Ngày 29/11/2023, Cơ quan điều tra đã cho T, T3, T5 và các bị hại xác định hiện trường; cho T, T3, T5 thực nghiệm điều tra. Kết quả T, T3, T5 xác định đúng vị trí trộm cắp 02 xe máy, phù hợp với bị hại và thực hiện thuần thục hành vi trộm cắp như đã khai.

Kết luận định giá tài sản số 233/KL-HĐĐG ngày 28/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:

- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn: đỏ-đen-bạc, biển số 98B3-879.00, đã qua sử dụng, mua năm 2022 có giá trị thời điểm ngày 18/11/2023 là 13.000.000 đồng.

- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn: đen, biển số 98E1-800.19, đã qua sử dụng, mua năm 2021 có giá trị thời điểm ngày 18/11/2023 là 12.000.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Hứa Thị M1 là mẹ Vy Văn T3 đã bồi thường cho chị Kim A 5.000.000 đồng và bồi thường cho chị T9 4.000.000 đồng. Anh Lưu Văn T10 là anh ruột của T5 đã bồi thường cho chị Kim A 4.000.000 đồng và bồi thường cho chị T9 4.000.000 đồng. Những người bị hại không yêu cầu T3T5 bồi thường thêm và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho T3, T5. Chị Kim A và chị T9 yêu cầu T bồi thường cho mỗi người số tiền 4.000.000 đồng. T chưa bồi thường cho những người bị hại.

Đối với chiếc xe mô tô BKS 98B3-879.00 và chiếc xe mô tô BKS 98E1-800.19. T khai bán cho người không quen biết nên không thu hồi được. Đối với biển số 98E1-800.19, Cơ quan điều tra đã cho các bị cáo xác định vị trí tháo biển và vứt đi nhưng không tìm thấy và không thu hồi được.

3. Hành vi trộm cắp tài sản của Phạm Văn T, Vy Văn T3 và hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có của Đào Công L1 ngày 19/11/2023.

Khoảng 16 giờ ngày 19/11/2023, Phạm Văn T gọi điện thoại rủ Vy Văn T3 đi trộm cắp xe máy. T3 đồng ý và điều khiển xe máy biển số 14H1-5691 đến phòng trọ của T đón rồi đi đến các tuyến đường trong thành phố B tìm tài sản trộm cắp. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, hai người thấy trên vỉa hè có một bãi gửi xe máy của khách đến dự đám cưới gia đình anh Hà Chí P1 ở số nhà H, đường G, tổ N, phường X thành phố B nhưng không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp. T3 dừng xe lại để T xuống xe đi đến vị trí để chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 98B3-477.45 trong bãi gửi xe. Chiếc xe này là của anh Phạm Hoàng H3, sinh năm 1997, trú tại số A, ngõ A, đường G, tổ N, phường X, thành phố B đi đến dự đám cưới để ở đó. T ngồi xuống vị trí trước đầu xe, dùng tay phải giật rắc cắm ổ khóa điện ở dưới mặt nạ của xe máy rồi nối dây điện màu đỏ và dây điện màu đen với nhau. T ngồi lên xe máy đề nổ. Sau đó, TT3 mỗi người đi một xe máy rời khỏi hiện trường. Trên đường đi, hai người dừng lại ở một bãi đất trống ven đường. T3 lấy chiếc cà lê rồi cùng T tháo biển số xe vứt đi.

Đào Công L1 quen biết V Văn Thắng từ trước. L1 thấy T3 đi nhiều xe máy khác nhau nên nhờ T3 tìm mua giúp một chiếc xe máy trị giá khoảng 4 đến 5 triệu đồng để sử dụng. Vì vậy, sau khi trộm cắp Honda Wave biển số 98B3-477.45 của anh H3 thì T3 nảy sinh ý định bán chiếc xe này cho L1. T3 gọi điện thoại cho L1 thông báo có chiếc xe máy còn chất lượng, tầm giá khoảng 6.500.000 đồng. Lúc này, L1 đang làm ở quán K tại tổ dân phố M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang nên bảo T3 mang xe đến quán, nếu xe có chất lượng thì sẽ mua với giá 6.000.000 đồng. T3 sợ bị Công an phát hiện nên nói với L1: “quán xung quanh nhiều camera”, L1 nói: “có việc gì đâu”. T3 hỏi L1: “thế có ai không?”, L1 trả lời: “không có ai, có mấy người ở đây”. Sau khi thỏa thuận xong, T3 bảo T đi xe về bán cho L1. Khi đi đến phía sau quán karaoke, T3 bảo T đứng chờ cách quán karaoke khoảng 300m còn T3 đi xe máy biển số 14H1-5691 đến đón L1 rồi đưa đến địa điểm T chờ để bán xe máy. Tại đây, L1 thấy T đeo khẩu trang ngồi trên xe máy. T3 chỉ cho L1 chiếc xe máy mà T đang ngồi. L1 xem chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave thấy xe đang nổ nhưng không có giấy tờ, không có gương chiếu hậu và cũng không có biển số. L1 hỏi về nguồn gốc chiếc xe máy thì T3 nói: “xe này anh mới lấy dưới Bắc Ninh về”. Theo L1 khai từ việc nói chuyện với T3 qua điện thoại sợ có lắp camera theo dõi và thấy xe không có giấy tờ, không có biển số nên biết chiếc xe máy này là do T3 trộm cắp hoặc lừa đảo của người khác mà có nhưng vẫn đồng ý mua và không hỏi đăng ký xe nữa. Sau đó, L1 đưa cho T3 2.000.000 đồng tiền mặt và hẹn khi về đến quán sẽ chuyển khoản nốt số tiền còn lại. L1 đi xe máy về quán karaoke nhưng không có chìa khóa nên không tắt được máy nên đã rút bugi của xe ra để tắt máy. L1 chuyển khoản 4.000.000 đồng vào tài khoản của T3. Sau đó, T3 chia cho T 3.000.000 đồng. Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 20/11/2023, Đào Công L1 lấy xe máy đi về nhưng không đề nổ được nên nhắn tin qua Z cho T3 nhờ bẻ khóa xe. T3 bảo L1 phải thay khóa điện khác do đã giật đứt dây điện. Buổi sáng cùng ngày, L1 mang xe ra quán thay ổ khóa mới và lắp chiếc biển số 25T1-176.05 (L1 khai nhặt được trước đó) vào chiếc xe này sử dụng đi lại sau đó bị Cơ quan điều tra thu giữ.

Kết luận định giá tài sản số 234/KL-HDĐG ngày 28/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn trắng-đen-bạc, biển số 98B3-477.45, đã qua sử dụng, mua năm 2019 có giá trị tại thời điểm ngày 19/11/2023 là 9.000.000 đồng.

Ngày 25/11/2023, Phạm Văn T đầu thú. Quá trình tiếp nhận ra đầu thú, Cơ quan điều tra tạm giữ của T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu vàng gắn sim số 0345.531.504 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xr, màu đen gắn sim số 0826.875.133 (do T mượn của Đặng Trung H). Kiểm tra các điện thoại không phát hiện nội dung vi phạm pháp luật.

Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Vy Văn T3, Lưu Văn T5, Đào Công L1, Đặng Trung H. Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo T, T3, T5, L1, H khai nhận thành khẩn hành vi phạm tội như nêu trên.

Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Văn T tại tổ dân phố M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang thu giữ:

01 Căn cước công dân mang tên Phạm Văn T; 01 Giấy phép lái xe số [...] mang tên Vi Thị T9; 01 đôi giầy da màu đen; 01 quần bò màu xanh; 01 áo khoác màu trắng; 01 mũ bảo hiểm lưỡi trai màu đen; 01 chiếc cờ lê số 10 (là trang phục, công cụ T mặc và sử dụng đi trộm cắp); 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius lắp biển số 98B2-641.25.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Vy Văn T3 tại Tổ dân phố H, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang thu giữ:

03 áo khoác các loại; 01 đôi giầy thể thao màu trắng (là trang phục T3 mặc đi trộm cắp); 01 chiếc điện thoại OPPO Reno2F; kiểm tra thấy mục Zalo có kết bạn với tài khoản Zalo của Phạm Văn T, Đào Công L1Lưu Văn T5; 01 Căn cước công dân mang Vy Văn T3; 01 đăng ký xe mô tô số 009419 mang tên Vũ Mạnh D biển số 14H1-5691; 01 biển số xe mô tô 98B3-879.00; 01 nhãn hiệu Yamaha Exciter biển số 14H1-5691; kiểm tra trong cốp xe có 01 chiếc cà lê.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Lưu Văn T5 tại tổ dân phố H, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang thu giữ:

01 quần bò màu đen, 01 chiếc mũ bảo hiểm dạng mũ lưỡi chai, 01 đôi giầy màu nâu. Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn tạm giữ của T5 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 vỏ màu xanh lắp sim số 0333.425.202. Kiểm tra điện thoại thấy mục Z có kết bạn với tài khoản của Vy Văn T3; ngày 18/11/2023 có phát sinh liên lạc giữa 2 tài khoản này.

Cơ quan điều tra kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs Max thu giữ của Đào Công L1 thấy tại mục Zalo phát hiện nội dung tin nhắn với tài khoản của Vy Văn T3 có nội dung nhờ bẻ khoá điện của xe mô tô. Mục hình ảnh có ảnh chuyển khoản 4.000.000 đồng cho T3.

Kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Nokia thu giữ của Đặng Trung H không phát hiện nội dung vi phạm pháp luật. H khai đã xóa hết các dữ liệu liên lạc với T.

Xác minh số tài khoản 0001012431172 của Đào Công L1 mở tại ngân hàng N1 Chi nhánh B xác định ngày 19/11/2023 có chuyển khoản 4.000.000 đồng đến số tài khoản 108872207078 của Vy Văn T3 mở tại ngân hàng V1.

Ngày 29/11/2023, Cơ quan điều tra đã cho T, T3 và người bị hại xác định hiện trường và cho T, T3 thực nghiệm điều tra hành vi trộm cắp. Kết quả T, T3 xác định vị trí trộm cắp xe máy phù hợp với bị hại và thực hiện thuần thục hành vi trộm cắp như đã khai.

Ngày 25/11/2023, Cơ quan điều tra cho Phạm Văn T nhận dạng ảnh Vi Văn Thắng, Đặng Trung H, Lưu Văn T5. Kết quả T nhận đúng ảnh và xác định T3, T5 tham gia trộm cắp xe máy và H giúp đi bán xe máy do T đã trộm cắp.

Cơ quan điều tra cho Đào Công L1 nhận dạng qua ảnh Vi Văn T13. Kết quả L1 nhận đúng ảnh và xác định T13 đã bán chiếc xe máy Honda Wave mầu sơn trắng, đen, bạc mà T13 đã trộm cắp.

Cơ quan điều tra cho Vi Văn T13 nhận dạng ảnh Phạm Văn T, Lưu Văn T5, Đào Công L1. Kết quả T13 nhận đúng ảnh và xác định T, T5 tham gia trộm cắp xe máy; L1 mua chiếc xe máy do T13 trộm cắp đem đi bán.

Cơ quan điều tra cho Lưu Văn T5 nhận dạng ảnh Vi Văn T13, Phạm Văn T. Kết quả T5 nhận đúng ảnh và xác định cùng TT13 trộm cắp 2 chiếc xe máy ngày 18/11/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Phạm Hoàng H3 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave không có biển kiểm soát. Anh H3 không yêu cầu bồi thường chi phí làm lại biểm kiểm soát và xin giảm nhẹ hình phạt cho TT13.

Về xác minh, xử lý vật chứng đã thu giữ:

- Cơ quan điều tra đã trả lại cho những người bị hại gồm: Trả lại anh Phạm Hoàng H3 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave không có biển kiểm soát; trả lại chị Vi Thị T9 01 giấy phép lái xe số [...] mang tên Vi Thị T9

- Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 98B2-641.25 thu giữ tại nơi ở của Phạm Văn T khi khám xét. Kết quả xác minh xác định chị Nguyễn Thị M3, trú tại thôn Y, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Giang là chủ sở hữu đăng ký xe trên. Chị M3 khai vào khoảng tháng 01/2023 đã thế chấp chiếc xe này cho người không quen biết tại khu công nghiệp Q để vay tiền. Bị cáo T khai mua của một người không quen biết từ tháng 09/2023, xe không có đăng ký. Do chưa làm rõ được nguồn gốc và chiếc xe này không liên quan đến hành vi phạm tội trộm cắp tài sản trong vụ án nên Cơ quan điều tra tách ra để tiếp tục xác minh, xử lý sau.

- Xe mô tô Yamaha Exciter biển số 14H1-5691 và 01 đăng ký xe mô tô số 009419 mang tên Vũ Mạnh D, địa chỉ: Y - Đ - Đ, Quảng Ninh. Kết luận giám định của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Dãy số máy và dãy số khung bị đóng đục lại, không xác định được số khung nguyên thủy. Phôi đăng ký mô tô là thật, nội dung bị sửa chữa tại vị trí chữ số 9 mục Biển số đăng ký không xác định được nội dung nguyên thủy. Anh Vũ Mạnh D, sinh năm 1988, trú tại số nhà H, tổ dân phố M, phường H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh khai vào tháng 11/2011 bị mất đăng ký chiếc trên, đã làm lại đăng ký và sử dụng đến năm 2018 thì bán cho người không quen biết. T13 khai mua xe của một người không quen biết từ tháng 03/2023 và sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản.

- Đối với chiếc biển số 25T1-176.05 được cấp cho chiếc mô tô nhãn hiệu Honda Wave, chủ sở hữu là anh Phùng Văn S, sinh năm 1988, trú tại bản Én Luông, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu. Anh S đã bán chiếc xe này cho cô ruột là Vàng Thị T14, sinh năm 1971 ở cùng bản. Hiện nay, bà T14 vẫn đang sử dụng chiếc xe mô tô có biển số trên.

Bản cáo trạng số 65/CT-VKS ngày 15/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố các bị cáo Phạm Văn T, Vy Văn T15 tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Truy tố bị cáo Lưu Văn T5 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Truy tố bị cáo Đào Công L1, Đặng Trung H về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của bị hại vắng mặt tại phiên tòa. Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều không có ý kiến gì về lời khai của bị hại.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với các bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173, điểm g, h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 56, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn T16 năm 09 tháng tù đến 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp Bản án hình sự sơ thẩm số 90/2023/HS-ST ngày 31/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xử phạt 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” chuyển thành tù giam. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là từ 03 năm 06 tháng tù đến 03 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/11/2023 (bị cáo được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 11/3/2023 đến 20/3/2023 của Bản án số: 90/2023/HS-ST ngày 31/5/2023)

- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Vy Văn T17 02 năm 03 tháng tù đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 25/11/2023.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lưu Văn T5 từ 01 năm tù đến 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 25/11/2023.

- Căn cứ khoản 1 Điều 323, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự. Điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt bị cáo Đặng Trung H từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng. Kể từ ngày tuyên án sơ thẩm giao bị cáo cho UBND phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trả tự do cho bị cáo H ngay tại phiên tòa, nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về tội phạm khác.

- Căn cứ khoản 1 Điều 323, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Đào Công L1 từ 07 tháng tù đến 10 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 14 tháng đến 20 tháng. Kể từ ngày tuyên án sơ thẩm giao bị cáo cho UBND xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự. Khoản 1 Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 589 Bộ luật dân sự.

Bị cáo Phạm Văn T phải bồi thường cho anh Trần Văn H6 tiền 3.750.000 đồng, anh Tăng Văn Huấn 6.000.000 đồng, chị Nông Thị Kim A 4.000.000 đồng, chị Vi Thị T9 4.000.000 đồng.

- Vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu 01 đôi giầy da, màu đen; 01 chiếc quần bò màu xanh, đã qua sử dụng, cạp quần gắn mác có chữ “Size 32 MADEIN VIET NAM”; 01 chiếc áo khoác màu trắng sữa, bên trong màu cam, trên ngực áo có in chữ ‘“Nike” màu cam, cổ áo gắn mác in số và chữ “190/105A 4XL”; 01 chiếc mũ bảo hiểm lưỡi trai, màu đen; 02 chiếc cờ lê số 10, bằng kim loại, đã qua sử dụng; 01 áo phao trắng sữa; 01 chiếc áo khoác màu đen, cổ áo và ống tay áo có viền màu trắng; 01 áo khoác đen-trắng, sau áo có chữ “NEMBOYS”; 01 đôi giầy thể thao, màu trắng nhãn hiệu NIKE; 01 chiếc quần bò màu đen, trên quần có chữ “JEAN DENIM”; 01 chiếc mũ bảo hiểm dạng mũ lưỡi trai, kẻ sọc đen-trắng; 01 đôi giầy đế màu trắng, trên giày có chữ “VERSACE”; 01 chiếc biển số: 25T1-176.05; 01 chiếc biển số 98B3-879.00 đều đã qua sử dụng để tiêu hủy.

Trả lại bị cáo T 01 căn cước công dân, số [...], mang tên Phạm Văn T; bị cáo Thắng 01 căn cước công dân mang tên Vy Văn T3; bị cáo Hùng 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xr, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI: 356429103168390, gắn sim số: 0826875133; bị cáo T5 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu xanh, số IMEI: 356600104623225, màn hình bị vỡ nhưng giữ lại điện thoại để đảm bảo thi hành án.

Tịch thu 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPP Reno 2F, số IMEI 1: 869778040994775, số IMEI 1: 869778040994767 của bị cáo T3; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu vàng, đã qua sử dụng, số IMEI: 35669508260678, gắn sim số: 0345531504 của bị cáo T; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XsMax, màu vàng của bị cáo L1; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, số IMEI 1: 353178110437644, số IMEI 1: 353178110437651 của bị cáo H; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đen-xám, đeo biển số: 14H1-5691, đã qua sử dụng và 01 đăng ký mô tô, xe máy, số I, mang tên chủ xe Vũ Mạnh D, địa chỉ: Y - Đ - Đ, Quảng Ninh, Biển số: 14H1-5691, cấp ngày 14/01/2009 của bị cáo T3 (Dãy số máy và dãy số khung bị đóng đục lại, không xác định được số khung nguyên thủy) để sung ngân sách Nhà nước.

Án phí căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 23, Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Tuấn, T3, T5, H mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo T phải chịu 887.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo L1.

Phần tranh luận: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát, các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát viên nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về sự vắng mặt của bị hại đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho những người tham gia tố tụng, tại phiên tòa bị hại vắng mặt, Kiểm sát viên, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều đề nghị HĐXX tiếp tục xét xử vụ án. Xét thấy đã có lời khai của bị hại có trong hồ sơ vụ án và sự vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến quá trình xét xử, HĐXX căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vụ án theo quy định.

[3]. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và vật chứng thu giữ được có đủ cơ sở kết luận: Ngày 17/11/2023, Phạm Văn TVy Văn T3 đi đến bãi gửi xe tại đám cưới của anh Tăng Văn T11 ở thôn Đ, xã T, thành phố B trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 98B1-125.95 trị giá 7.500.000 đồng của anh Trần Văn H1 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 98B3-663.03 trị giá 12.000.000 đồng của anh Tăng Văn H2 là khách đến dự đám cưới rồi đem ra khu vực đường P thuộc địa phận thôn A, xã T, thành phố B tháo biển số 2 xe. Sau khi trộm cắp xong, T gọi điện cho Đặng Trung H đến vị trí cất giấu xe máy đi chiếc xe máy BKS 98B3-663.03 về phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. H biết rõ chiếc xe máy này là do TT3 trộm cắp nhưng vẫn đồng ý giúp T đi xe máy trộm cắp đến huyện T, tỉnh Bắc Ninh để T bán xe cho người không quen biết và được trả công 200.000 đồng. H phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Ngày 18/11/2023, Phạm Văn T, Vy Văn T3Lưu Văn T5 đi đến cổng trường dân tộc nội trú tỉnh B để trộm cắp xe máy. T5 đứng ngoài cảnh giới để TT3 trộm cắp 01 xe mô tô Honda Wave biển số 98B3-879.00 trị giá 13.000.000 của chị Nông Thị Kim A và 01 chiếc xe Honda Wave biển số 98E1-800.19 trị giá 12.000.000 đồng của chị Vi Thị T9. T bán 2 chiếc xe máy cho người không quen biết được 14.000.000 đồng sau đó chia cho T3 6.000.000 đồng và chia cho T5 1.000.000 đồng. T5 phải chịu trách nhiệm đồng phạm với vai trò là người giúp sức.

Ngày 19/11/2023, Phạm Văn T, Vy Văn T3 đi đến tổ dân phố N, phường T, thành phố B trộm cắp 01 xe mô tô Honda Wave BKS 98B3-477.45 trị giá 9.000.000 đồng của anh Phạm Hoàng H7 đó tháo biển số rồi mang đến bán cho Đào Công L2 giá 6.000.000 đồng. L1 biết rõ chiếc xe máy này là do T3 trộm cắp nhưng vẫn mua sau đó thay ổ khóa xe, lắp biển số giả để sử dụng nên phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Như vậy có đủ căn cứ kết luận các bị cáo Phạm Văn T, Vy Văn T3 phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bị cáo Lưu Văn T5 phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Đào Công L1, Đặng Trung H phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4]. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản trong việc quản lý tài sản, các bị cáo Phạm Văn T, Vy Văn T3, Lưu Văn T5 đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo Đào Công L1, Đặng Trung H biết rõ tài sản do phạm tội mà có nhưng vẫn giúp sức đem đi tiêu thụ và mua lại tài sản, gây mất ổn định trật tự về an ninh tại địa phương và dư luận quần chúng nhân dân lên án, vì vậy hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải được xử lý nghiêm trước pháp luật.

[5]. Đánh giá về nhân thân và mức độ phạm tội của các bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo Phạm Văn T18 người có nhân thân xấu đã có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” và ngày 28/12/2023 Công an huyện Y, tỉnh Bắc Giang khởi tố về tội “Trộm cắp tài sản”. Các bị cáo khác là người có nhân thân tốt, bản thân chưa có tiền án, tiền sự. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng không nhận thức được việc làm của mình phạm tội với lỗi cố ý, chứng tỏ các bị cáo là người coi thường pháp luật. Trong vụ án này bị cáo Tuấn là người giữ vai trò chính bị cáo chủ động khởi xướng thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản, bị cáo T3 là người cung cấp phương tiện là xe mô tô để cùng các bị cáo T, T5 đi trộm tài sản là người giữ vai trò thứ hai, bị cáo T3, T đã trộm cắp 05 chiếc xe mô tô tổng trị giá tài sản là 53.500.000 đồng, bị cáo T5 là người cảnh giới đồng phạm về hành vi trộm cắp 02 xe mô tô ngày 18/11/2023 có tổng trị giá 25.000.000 đồng giữ vai trò thứ ba. Đối với bị cáo H biết rõ xe máy do T3, T trộm cắp mà có nhưng vẫn cùng bị cáo T đi bán để hưởng lợi. Bị cáo L1 biết rõ chiếc xe máy do T3 trộm cắp nhưng vẫn mua để sử dụng. Nhưng trước khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo không có sự cấu kết bàn bạc, phân công nhiệm vụ của từng người chặt chẽ đây chỉ là đồng phạm giản đơn. Vì vậy khi lượng hình cần có một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra, mức án của bị cáo T cao hơn các bị cáo T3, T5, H, L1 là phù hợp. Bị cáo T phạm tội trong thời gian thử thách của Bản án hình sự sơ thẩm số 90/2023/HS-ST ngày 31/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xử phạt 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” lại tiếp tục phạm tội mới, áp dụng khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự chuyển 9 tháng tù cho hưởng án treo thành tù giam, tổng hợp với kết quả của bản án mới buộc bị cáo T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án.

[6]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo Phạm Văn T19 phạm tội 02 lần trở lên và tái phạm đây tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, bị cáo Vy Văn T20 tội 02 lần trở lên đây tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, các bị cáo Lưu Văn T5, Đặng Trung H, Đào Công L1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo trong quá trình điều tra vụ án cũng như tại phiên tòa có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn, hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo T3, T5 đã khắc phục hậu quả bồi thường cho bị hại đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo T5, L1, H, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo T19 đầu thú trước cơ quan pháp luật, bị cáo T3, T5 được bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[8]. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo xét thấy:

- Cần thiết phải cách ly các bị cáo Phạm Văn Tuấn, Vy Văn T3, Lưu Văn T21 khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt cho gia đình và xã hội, vừa có tác dụng răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.

- Đối với các bị cáo Đào Công L1, Đặng Trung H8 có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng có khả năng tự cải tạo, nếu không bắt các bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, nhằm đề cao chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội và tạo điều kiện cho các bị cáo tự sửa chữa, cải tạo thành công dân có ích cho xã hội. Do vậy không cần thiết phải bắt các bị cáo L1, H9 chấp hành hình phạt tù, cho các bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự. Như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

[9]. Về phần trách nhiệm dân sự:

- Trong quá trình điều tra vụ án các bị hại yêu cầu bị cáo Phạm Văn T phải bồi thường dân sự cho anh Trần Văn H1 số tiền 3.750.000 đồng, anh Tăng Văn Huấn 6.000.000 đồng, chị Nông Thị Kim A 4.000.000 đồng, chị Vi Thị T9 4.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị cáo T nhất trí bồi thường cho bị hại số tiền trên. Xét yêu cầu bồi thường của bị hại là có căn cứ cần chấp nhận buộc bị cáo T phải bồi thường số tiền trên.

Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Hứa Thị M1 và anh Lưu Văn T10 có mặt tại phiên tòa không yêu cầu các bị cáo T3, T5 phải hoàn trả lại số tiền đã bồi thường cho bị hại, do vậy không đặt ra giải quyết.

[10]. Về tài sản và vật chứng thu giữ:

- Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại anh Phạm Hoàng H3 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave không có biển kiểm soát; trả lại chị Vi Thị T9 01 giấy phép lái xe số [...] mang tên Vi Thị T9, do vậy không đặt ra giải quyết.

- Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 98B2-641.25 thu giữ tại nơi ở của Phạm Văn T khi khám xét. Kết quả xác minh xác định chị Nguyễn Thị M3, trú tại thôn Y, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Giang là chủ sở hữu đăng ký xe trên. Chị M3 khai vào khoảng tháng 01/2023 đã thế chấp chiếc xe này cho người không quen biết tại khu công nghiệp Q để vay tiền. Bị cáo T khai mua của một người không quen biết từ tháng 09/2023, xe không có đăng ký. Do chưa làm rõ được nguồn gốc và chiếc xe này không liên quan đến hành vi phạm tội trộm cắp tài sản trong vụ án, Cơ quan điều tra đã tách ra để tiếp tục xác minh, xử lý sau, do vậy không đặt ra giải quyết trong vụ án này.

- Đối với xe mô tô Yamaha Exciter biển số 14H1-5691 và 01 đăng ký xe mô tô số 009419 mang tên Vũ Mạnh D, địa chỉ: Y - Đ - Đ, Quảng Ninh. Kết luận giám định của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Dãy số máy và dãy số khung bị đóng đục lại, không xác định được số khung nguyên thủy. Phôi đăng ký mô tô là thật, nội dung bị sửa chữa tại vị trí chữ số 9 mục Biển số đăng ký không xác định được nội dung nguyên thủy. Anh Vũ Mạnh D, sinh năm 1988, trú tại số nhà H, tổ dân phố M, phường H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh khai vào tháng 11/2011 bị mất đăng ký chiếc trên, đã làm lại đăng ký và sử dụng đến năm 2018 thì bán cho người không quen biết. T3 khai mua xe của một người không quen biết từ tháng 03/2023 và sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

- Đối với chiếc biển số 25T1-176.05 được cấp cho chiếc mô tô nhãn hiệu Honda Wave, chủ sở hữu là anh Phùng Văn S, sinh năm 1988, trú tại bản Én Luông, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu. Anh S đã bán chiếc xe này cho cô ruột là Vàng Thị T14, sinh năm 1971 ở cùng bản. Hiện nay, bà T14 vẫn đang sử dụng chiếc xe mô tô có biển số trên, do vậy cần tịch thu để tiêu hủy chiếc biển số 25T1-176.05 của bị cáo L1.

- Đối với 01 đôi giầy da, màu đen; 01 chiếc quần bò màu xanh, đã qua sử dụng, cạp quần gắn mác có chữ “Size 32 MADEIN VIET NAM”; 01 chiếc áo khoác màu trắng sữa, bên trong màu cam, trên ngực áo có in chữ “Nike” màu cam, cổ áo gắn mác in số và chữ “190/105A 4XL”; 01 chiếc mũ bảo hiểm lưỡi trai, màu đen; 02 chiếc cờ lê số 10, bằng kim loại, đã qua sử dụng; 01 áo phao trắng sữa; 01 chiếc áo khoác màu đen, cổ áo và ống tay áo có viền màu trắng; 01 áo khoác đen-trắng, sau áo có chữ “NEMBOYS”; 01 đôi giầy thể thao, màu trắng nhãn hiệu NIKE; 01 chiếc quần bò màu đen, trên quần có chữ “JEAN DENIM”; 01 chiếc mũ bảo hiểm dạng mũ lưỡi trai, kẻ sọc đen-trắng; 01 đôi giầy đế màu trắng, trên giày có chữ “VERSACE”; 01 chiếc biển số 98B3-879.00 đều đã qua sử dụng không có giá trị cần tịch thu để tiêu hủy.

- Trả lại giấy tờ, tài sản không liên quan đến việc phạm tội cho bị cáo T 01 căn cước công dân, số [...], mang tên Phạm Văn T; bị cáo T3 01 căn cước công dân mang tên Vy Văn T3; bị cáo H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xr, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI: 356429103168390, gắn sim số: 0826875133; bị cáo T5 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu xanh, số IMEI: 356600104623225, màn hình bị vỡ nhưng giữ lại điện thoại để đảm bảo thi hành án.

- Tịch thu tài sản liên quan đến việc phạm tội gồm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPP Reno 2F, số IMEI 1: 869778040994775, số IMEI 1: 869778040994767 của bị cáo T3; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu vàng, đã qua sử dụng, số IMEI: 35669508260678, gắn sim số: 0345531504 của bị cáo T; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XsMax, màu vàng của bị cáo L1; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, số IMEI 1: 353178110437644, số IMEI 1: 353178110437651 của bị cáo H để sung ngân sách Nhà nước.

[11]. Về hình phạt bổ sung bằng tiền: Các bị cáo đều không có nghề nghiệp, không có thu nhập, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.

[12]. Về án phí: Các bị cáo T, T3, T5, H mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo T phải chịu 887.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bị cáo L1 thuộc diện hộ gia đình cận nghèo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

[13]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173, điểm g, h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, Điều 56, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 02 năm 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp Bản án hình sự sơ thẩm số 90/2023/HS-ST ngày 31/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xử phạt 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” chuyển thành tù giam. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 03 năm 06 tháng, thời hạn tù tính từ ngày 25/11/2023 (bị cáo T được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 11/3/2023 đến 20/3/2023 của Bản án số: 90/2023/HS-ST ngày 31/5/2023)

2. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Vy Văn T22 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 25/11/2023.

3. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lưu Văn T23 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 25/11/2023.

4. Căn cứ khoản 1 Điều 323, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự. Điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt bị cáo Đặng Trung H 09 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” cho hưởng án treo thời gian thử thách 01 năm 6 tháng. Kể từ ngày tuyên án sơ thẩm giao bị cáo cho UBND phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách

Trả tự do cho bị cáo H ngay tại phiên tòa, nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về tội phạm khác.

5. Căn cứ khoản 1 Điều 323, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Đào Công L1 07 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” cho hưởng án treo thời gian thử thách 01 năm 02 tháng. Kể từ ngày tuyên án sơ thẩm giao bị cáo cho UBND xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.

6. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự. Khoản 1 Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 589 Bộ luật dân sự.

Bị cáo Phạm Văn T phải bồi thường cho anh Trần Văn H1 số tiền 3.750.000 đồng, anh Tăng Văn Huấn 6.000.000 đồng, chị Nông Thị Kim A 4.000.000 đồng, chị Vi Thị T9 4.000.000 đồng.

7. Vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu 01 đôi giầy da, màu đen; 01 chiếc quần bò màu xanh, đã qua sử dụng, cạp quần gắn mác có chữ “Size 32 MADEIN VIET NAM”; 01 chiếc áo khoác màu trắng sữa, bên trong màu cam, trên ngực áo có in chữ ‘“Nike” màu cam, cổ áo gắn mác in số và chữ “190/105A 4XL”; 01 chiếc mũ bảo hiểm lưỡi trai, màu đen; 02 chiếc cờ lê số 10, bằng kim loại, đã qua sử dụng; 01 áo phao trắng sữa; 01 chiếc áo khoác màu đen, cổ áo và ống tay áo có viền màu trắng; 01 áo khoác đen-trắng, sau áo có chữ “NEMBOYS”; 01 đôi giầy thể thao, màu trắng nhãn hiệu NIKE; 01 chiếc quần bò màu đen, trên quần có chữ “JEAN DENIM”; 01 chiếc mũ bảo hiểm dạng mũ lưỡi trai, kẻ sọc đen-trắng; 01 đôi giầy đế màu trắng, trên giày có chữ “VERSACE”; 01 chiếc biển số: 25T1-176.05; 01 chiếc biển số 98B3-879.00 đều đã qua sử dụng để tiêu hủy.

- Tịch thu 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPP Reno 2F, số IMEI 1: 869778040994775, số IMEI 1: 869778040994767 của bị cáo T3; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu vàng, đã qua sử dụng, số IMEI: 35669508260678, gắn sim số: 0345531504 của bị cáo T; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XsMax, màu vàng của bị cáo L1; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, số IMEI 1: 353178110437644, số IMEI 1: 353178110437651 của bị cáo H; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đen-xám, đeo biển số: 14H1-5691, đã qua sử dụng và 01 đăng ký mô tô, xe máy, số I, mang tên chủ xe Vũ Mạnh D, địa chỉ: Y - Đ - Đ, Quảng Ninh, Biển số: 14H1-5691, cấp ngày 14/01/2009 của bị cáo T3 (Dãy số máy và dãy số khung bị đóng đục lại, không xác định được số khung nguyên thủy) để sung ngân sách Nhà nước.

- Trả lại bị cáo T 01 căn cước công dân, số [...], mang tên Phạm Văn T; bị cáo T3 01 căn cước công dân mang tên Vy Văn T3; bị cáo H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xr, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI: 356429103168390, gắn sim số: 0826875133; bị cáo T5 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu xanh, số IMEI: 356600104623225, màn hình bị vỡ nhưng giữ lại điện thoại để đảm bảo thi hành án.

8. Án phí căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 23, Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Các bị cáo T, T3, T5, H mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo T phải chịu 887.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo L1.

9. Về quyền kháng cáo căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Toà tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định hoặc buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy đinh tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - Công an thành phố Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS thành phố Bắc Giang;
  • - UBND phường, xã nơi các bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo; bị hại, người liên quan;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/HS-ST ngày 19/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 76/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger