Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2023/DS-PT

Ngày: 17/11/2023

“Về việc tranh chấp hợp đồng

mua bán tài sản”

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Tạ Duy Ước

Các Thẩm phán: ông Bùi Đức Thanh

ông Nguyễn Hồng Ánh

Thư ký phiên tòa:Nguyễn Thị Hoa Lê - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh:Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 67/2023/TLPT-DS ngày 10 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản

Do bản án dân sự sơ thẩm số 14/2023/DS-ST ngày 02/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2023/QĐ-PT ngày 31/8/2023 giữa các đương sự:

  • *Nguyên đơn: chị Chương Thị A; nơi cư trú: khu T, phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt

  • Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: chị Chương Thị G; địa chỉ cư trú: khu G, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.

  • *Bị đơn: anh Nguyễn Văn T; nơi cư trú: thôn T thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt

  • Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: chị Lâm Thị T1; nơi cư trú: nơi cư trú: thôn T thành phố M, tỉnh Quảng Ninh.Có mặt

  • * Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: chị Chương Thị G; địa chỉ cư trú: khu G, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

  • 4. Người kháng cáo: bị đơn anh Nguyễn Văn T

1

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, lời khai, trong quá trình hòa giải và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, chị Chương Thị G trình bày: Tháng 01/2021 giữa nguyên đơn và bị đơn ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa (cây huyết đằng) với tổng khối lượng là 63 tấn, với đơn giá 3,9NDT/1kg; tổng số tiền quy đổi sang tiền Việt nam là 501.000.000đ (năm trăm lẻ một triệu đồng). Trong thời gian từ ngày 27/01/2021 đến 02/02/2021 nguyên đơn đã 04 lần chuyển đủ 501.000.000đ cho bị đơn qua smartbanking. Bị đơn mới chỉ giao cho nguyên đơn 537 bao hàng, tương ứng với 21.280kg = 292.463.808đ. Bị đơn còn giữ của nguyên đơn 208.536.192đ. Tại đơn khởi kiện ngày 12/10/2021 nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán số tiền còn lại cho nguyên đơn là 208.536.192đ và lãi suất đối với khoản tiền trên tương ứng với thời gian chậm trả là 08 tháng x lãi suất tạm tính 10%/năm = 13.902.412đ. Tại biên bản hòa giải ngày 24/5/2023 và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn rút yêu cầu đối với lãi suất chậm trả.

Bị đơn Nguyễn Văn T có quan điểm: nội dung giao kết hợp đồng mua bán cây Huyết đằng về số lượng, giá tiền và tổng số tiền mà nguyên đơn đã chuyển cho bị đơn là đúng. Tuy nhiên bị đơn khẳng định đã giao đủ hàng cho nguyên đơn nên không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền 208.536.192đ. Việc giao nhận hàng đều do anh Nguyễn Huy T2 thuộc đơn vị Ratraco nhận; giao hàng lần 1 có biên bản giao nhận; còn giao hàng lần 2 thì không có biên bản.

Người làm chứng Nguyễn Huy T2 có quan điểm: anh làm công nhân thuộc đơn vị R tại ga Y, thị trấn Y, G, Hà Nội. Công ty của anh nhận vận chuyển lô hàng cây H đằng cho công ty H1 (công ty phía bên Trung Quốc). Hình thức giao nhận giữa hai bên là nguyên container, nguyên chì. Công ty H1 cho anh số điện thoại của chị Chương Thị G để liên hệ nhận hàng tại ga Y. Vào khoảng 31/01/2021 anh nhận 01 xe hàng do anh Nguyễn Văn T nhà ở M bàn giao để chuyển cho chị G đưa sang Trung Quốc. Sau khi nhận hàng anh và anh T có làm biên bản giao nhận hàng. Anh giúp chị Gái gọi công nhân bốc hàng từ ô tô sang container để vận chuyển sang Trung Quốc. Vào ngày 01/02/2021 anh T lại giao thêm 01 xe hàng nữa tại ga Y. Tuy nhiên khi hạ được 160 bao hàng thì anh nhận được thông tin bên chị G là hàng không đủ chất lượng nên Công ty H1 (phía bên Trung Quốc) không đồng ý nhận hàng nên anh đã bốc trả lại xe ô tô số lượng hàng đã hạ nên không có biên bản giao nhận đối với xe hàng này. Anh xác định anh là người làm công ăn lương nên chỉ biết thực hiện công việc được giao, không biết được việc ký kết hợp đồng của hai bên vì vậy đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.

2

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 14/2023/DS-ST ngày 02/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tuyên xử: chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Chương Thị A đối với anh Nguyễn Văn T.

Buộc anh Nguyễn Văn T có nghĩa vụ trả cho chị Chương Thị A số tiền: 104.268.096đ. (một trăm lẻ bốn triệu, hai trăm sáu mươi tám nghìn, không trăm chín sáu đồng).

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 17/8/2023 bị đơn là anh Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo đối với toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự giữ nguyên các quan điểm đã trình bày. Đại diện viện kiểm sát có quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm: Về tố tụng, đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Về nội dung: đề nghị HĐXX chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn, Căn cứ Khoản 2 Điều 308 BLTTDS: sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

  1. Về tố tụng:

    Kháng cáo của bị được thực hiện đúng trình tự, thủ tục và trong hạn luật định nên Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét lại bản án sơ thẩm theo trình tự phúc thẩm.

  2. Về nội dung:

    Xem xét hình thức, nội dung hợp đồng mua bán thể hiện:

    tháng 01/2021 bà Chương Thị A và ông Nguyễn Văn T ký kết hợp đồng mua bán 63 tấn cây Huyết Đằng với giá 3,9NDT/1kg, thành tiền 245.700NDT quy đổi ra tiền Việt Nam tại thời điểm giao dịch là 501.000.000đ. Hợp đồng được lập thành văn bản, tại thời điểm ký kết các đương sự có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên có hiệu lực theo quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự

3

Xem xét về việc thực hiện hợp đồng thấy:

Sau khi ký kết hợp đồng, ngày 31/01/2021, bên bán đã tiến hành giao công hàng thứ nhất cho bên mua, bên mua đã thanh toán số tiền tương ứng với 21.280kg = 292.463.808đ, việc giao nhận có lập biên bản giao nhận. Đối với công hàng thứ hai, ngày 01/02/2021, bên bán đã vận chuyển hàng đến ga Y, G, Hà Nội theo đúng thỏa thuận của hai bên, bên mua sau khi kiểm tra hàng đã loại 2.000 kg hàng không đảm bảo chất lượng nên số hàng giao thực tế của lần thứ hai là 14.510kg, sau đó bên mua đã thanh toán toàn bộ số tiền còn lại. Số hàng này sau khi kiểm tra xong được bốc lên xe để anh T2 vận chuyển sang Trung Quốc, điều này đã được người làm chứng anh Nguyễn Huy T2 xác nhận. Như vậy nếu căn cứ theo mục 5. của Hợp đồng “khi hàng bên Bản chuyển hàng đến ga xe lửa Đ - Hà Nội Việt Nam, sau khi nghiệm thu về chất lượng hàng đạt được theo yêu cầu của Hợp đồng này, bên mua sẽ tự động thanh toán nốt số tiền còn lại sau đặt cọc” thì việc mua bán, giao hàng đã xong theo đúng như hợp đồng hai bên đã ký kết. Tại phiên tòa phúc thẩm chị G xác nhận sau khi kiểm tra hàng, bên mua loại hàng không đảm bảo chất lượng, số hàng còn lại được đóng lại vào bao, kẹp chì và thuê người bốc lên container. Khi đang chuyển tải hàng, mới phát sinh sự việc phía Trung Quốc có thông tin hàng không đủ chất lượng nên không đồng ý nhận hàng. Hiện tại, bên mua không biết xe hàng hiện nay ở đâu. Do xe hàng không có người quản lý nên dẫn đến thiệt hại xảy ra, hiện nay hàng đã bị thất lạc; cả bên bán và bên mua đều không biết chính xác công hàng thứ hai này hiện đang ở đâu, do ai quản lý. Tại thời điểm giao hàng lần thứ hai này, cả bên bán và bên mua đều xác định hàng đã đến địa điểm giao hàng, anh T cũng cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh cho nội dung này. Bên mua cho rằng hàng không đảm bảo chất lượng nên không nhận hàng nhưng không đưa ra được căn cứ chứng minh cho việc hàng không đảm bảo chất lượng, bên bán đã thực hiện xong nghĩa vụ giao hàng của mình, như vậy căn cứ khoản 1 Điều 411 Bộ luật dân sự về thời điểm chịu rủi ro thì bên mua chịu rủi ro đối với tài sản kể từ thời điểm nhận tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

Vì vậy có căn cứ chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn. Sửa bản án sơ thẩm, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

  1. Về án phí phúc thẩm:

    do kháng cáo của anh T được chấp nhận nên anh T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

4

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 2 Điều 308, Điều 313, khoản 2 Điều 148 Bộ luật Tố tụng Dân sự, chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Nguyễn Văn T. Sửa bản án sơ thẩm.

Áp dụng: Điều 117, Điều 401,Điều 430, Điều 432, Điều 434, Điều 436, Điều 441 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Chương Thị A về việc yêu cầu bị đơn aanh Nguyễn Văn T phải thanh toán số tiền 208.536.192đ (Hai trăm linh tám triệu, năm trăm ba mươi sáu nghìn, một trăm chín mươi hai đồng)

  2. 3. Về án phí : nguyên đơn chị Chương Thị G phải chịu 10.426.809 đ (Mười triệu, bốn trăm hai mươi sáu nghìn, tám trăm linh chín đồng) được trừ đi số tiền 5.561.000 đ ( năm triệu, năm trăm sáu mươi mốt nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm chị A đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0007526 ngày 01/11/20221 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.

  3. Trả lại cho anh Nguyễn Văn T số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007823 ngày 28/8/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồng Ánh

Bùi Đức Thanh

Tạ Duy Ước

5

Nơi nhận:

  • Đương sự;
  • VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • TAND thành phố Móng Cái;
  • THA, VP;
  • Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tạ Duy Ước

6

Nguyễn Hồng Ánh

Bùi Đức Thanh

Tạ Duy Ước

7

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2023/DS-PT ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản

  • Số bản án: 76/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/11/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger