Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN ND HUYỆN NGA SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2023/HNGĐ - ST

Ngày: 16-11-2023

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Quản; ông Phạm Bá Luyến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 16/11/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 164/2023/TLST- HNGĐ ngày 11 tháng 8 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 06/10/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 63/2023/QÐST-HNGĐ ngày 31/10/2023 giữa:

- Nguyên đơn: Anh Mai Văn P - Sinh năm 1977 - Địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Chị Phạm Thị H - Sinh năm 1979 - Địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Vắng mặt (không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 08/8/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Mai Văn P trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị Phạm Thị H tự nguyện và đi đến kết hôn với nhau vào ngày 12/9/2007, được UBND xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Sau thời gian chung sống vợ chồng anh hạnh phúc và đã cùng nhau sinh được 03 con chung. Tuy nhiên, do công việc của anh thường xuyên vắng nhà nên cuộc sống hôn nhân của anh chị thời gian gần đây đã phát sinh mâu thuẫn. Năm 2018, do kinh tế khó khăn, anh phải vay mượn nợ nần nhiều dẫn đến ảnh hưởng tình cảm vợ chồng, cho nên mỗi lần anh chị nói chuyện với nhau thì câu trước, câu sau lại cãi nhau, chính vì mâu thuẫn phát sinh nên tình cảm vợ chồng không được gần gũi. Năm 2019, anh chị mâu thuẫn nhiều hơn sau những lần nói chuyện, từ đó anh chị không còn quan hệ tình cảm vợ chồng với nhau, không ai còn quan tâm đến cuộc sống của nhau, kinh tế, tiền bạc của ai người đó giữ và cũng từ thời gian này anh chị đã sống ly thân khoảng gần 02 năm trở lại đây. Nhiều lần anh đề nghị chị H ký đơn ly hôn để anh chị làm thủ tục thuận tình ly hôn nhưng không nhận được sự hợp tác từ chị H. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không còn lý do để hàn gắn đoàn tụ, duy trì cuộc sống hôn nhân, anh yêu cầu được ly hôn chị H theo quy định của pháp luật.

Về con: Vợ chồng anh có 03 con chung là Mai Hà T - Sinh ngày: 19/12/2007, Mai Nam A - Sinh ngày 29/8/2009 và Mai Nam P1 - Sinh ngày 01/3/2018. Hiện các cháu đang ở với chị H. Anh yêu cầu giao cả ba cháu cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000 đồng/cháu/tháng, 03 cháu là 9.000.000đ/tháng kể từ khi Tòa án giải quyết ly hôn xong đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Về tài sản và nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 23/8/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Phạm Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Ngày tháng năm, cơ sở kết hôn như anh P trình bày là đúng. Sau ngày thời gian chung sống, vợ chồng chị sống hạnh phúc và sinh được 03 con, cho đến năm 2022 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh P làm ăn thua lỗ nên phát sinh mâu thuẫn, nhưng với những mâu thuẫn ấy chị vẫn chưa thấy trầm trọng. Anh P đi làm ăn xa 01 tháng về một lần nên chị thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng chị được đoàn tụ để cùng nuôi dạy con trưởng thành.

Về con: Vợ chồng chị có 03 con chung như anh P khai. Hiện các cháu đang ở với chị. Nếu phải ly hôn, chị đồng ý được trực tiếp nuôi con, đồng ý anh P cấp dưỡng tiền nuôi con chung là 3.000.000 đồng/cháu/tháng, 03 cháu là 9.000.000đ/tháng kể từ khi Tòa án giải quyết ly hôn xong đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Về tài sản: Chị không yêu cầu giải quyết.

Vụ án có liên quan đến người chưa thành niên nên Tòa án tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp theo quy định tại khoản 3 Điều 208 BLTTDS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; bị đơn chưa chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định.

- Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Mai Văn P, cho anh P được ly hôn chị Phạm Thị H. Về con: Giao cả 03 cháu Mai Hà T - Sinh ngày: 19/12/2007, Mai Nam A – Sinh ngày 29/8/2009 và Mai Nam P1 - Sinh ngày 01/3/2018 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh P có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Về án phí: Anh P phải chịu án phí DSST theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh Mai Văn P có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa giải quyết việc ly hôn giữa anh và chị Phạm Thị H. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án huyện Nga Sơn.

Ngày 31/10/2023, Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử lần thứ nhất, chị H vắng mặt không có lý do nên phải hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay, anh P vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, chị H vắng mặt lần thứ hai không có lý do, nên theo quy định điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử lần hai - vắng mặt cả anh P và chị H.

[2] Về hôn nhân: Anh Mai Văn P và chị Phạm Thị H kết hôn ngày 12/9/2007, trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình đồng ý, không cản trở, cưới có đăng ký kết hôn, như vậy là hôn nhân hợp pháp. Sau ngày kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc và sinh được 03 người con, cho đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do mâu thuẫn về kinh tế, anh P làm ăn thua lỗ dẫn đến nợ nần nhiều, anh chị sống ly thân nhau từ năm 2019 cho đến nay, không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Nay anh P thấy tình cảm vợ chồng không còn, anh yêu cầu được ly hôn chị H theo quy định của pháp luật, còn chị H thấy mâu thuẫn chưa đến mức trầm trọng nên đề nghị được đoàn tụ để cùng nuôi dạy con cái trưởng thành.

HĐXX xét thấy, chị H nói rằng đang còn tình cảm với anh P, chị muốn vợ chồng đoàn tụ để chăm sóc, nuôi dạy con cái. Đây là lý do mà chị đưa ra chỉ nhằm kéo dài, gây khó khăn cho việc anh P yêu cầu xin ly hôn chị, vì cả anh P và chị H đều thừa nhận vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn và đã sống ly thân nhau. Mặt khác, tại biên bản xác minh ngày 25/8/2023, đại diện thôn B, xã N cho biết anh P và chị H kết hôn với nhau năm 2007, sau ngày kết hôn anh chị chung sống và sinh được 03 người con, khoảng năm 2019, anh chị xảy ra mâu thuẫn nghe nói do vấn đề về kinh tế, anh P đi làm ở xa thỉnh thoảng mới về nhưng không thấy vợ chồng chung sống cùng nhau nữa; về con: Anh P và chị H có 03 con chung, hiện các cháu đang ở cùng với chị H.

Như thế chứng tỏ cuộc hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, cần giải quyết cho anh P được ly hôn chị H là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về con chung: Anh P và chị H có 03 cháu Mai Hà T - Sinh ngày: 19/12/2007, Mai Nam A - Sinh ngày 29/8/2009 và Mai Nam P1 - Sinh ngày 01/3/2018, anh P yêu cầu giao con cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chị H đồng ý. HĐXX thấy, từ khi anh P và chị H sống ly thân nhau đến nay các cháu ở với chị H, mặt khác, cháu Hà T và cháu Nam A có nguyện vọng được ở với mẹ, nên xử giao cả 03 cháu cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về mức cấp dưỡng: Anh P tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi cháu là 3.000.000đ/tháng, chị H đồng ý. Xét thấy, người không trực tiếp nuôi con phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con, nên cần buộc anh P cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị H mỗi cháu là 3.000.000đ/tháng, 03 cháu là 9.000.000đ/tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 11/2023 cho đến khi các cháu thành niên là phù hợp.

[4] Về tài sản và nợ chung: Anh P, chị H không yêu cầu giải quyết, nên miễn xét.

[5] Về án phí: Anh Mai Văn P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (DSST) về việc ly hôn và án phí DSST về việc cấp dưỡng nuôi con định kỳ theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật TTDS năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Mai Văn P, cho anh P được ly hôn chị Phạm Thị H.
  2. Về con: Giao cả 03 cháu Mai Hà T - Sinh ngày: 19/12/2007, Mai Nam A – Sinh ngày 29/8/2009 và Mai Nam P1 - Sinh ngày 01/3/2018 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh P cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi cháu là 3.000.000đ/tháng, 03 cháu là 9.000.000đ/tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 11/2023 cho đến khi các cháu thành niên. Anh P có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
  3. Về án phí: Anh Mai Văn P phải nộp 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) án phí DSST về việc ly hôn và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí DSST về việc cấp dưỡng nuôi con định kỳ, tổng cộng là 600.000₫ (sáu trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí DSST mà anh đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2021/0016575 ngày 09/8/2023 của Chi cục THADS huyện N; anh P còn phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí DSST.
  4. Về quyền kháng cáo: Anh P và chị H có quyền kháng bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7, 7a và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND huyện Nga Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Nga Sơn;
  • - UBND xã Nga Thạch, huyện Nga Sơn;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2023/HNGĐ - ST ngày 16/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

  • Số bản án: 76/2023/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh Mai Văn P yêu cầu ly hôn chị Phạm Thị H, yêu cầu giao cả 03 con cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh P cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi cháu là 3.000.000đ/tháng, 03 cháu là 9.000.000đ/tháng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger