Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TÂN CHÂU

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2024/HS-ST

Ngày 16 tháng 9 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Nhựt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Cảnh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Vi - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 59/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Tuấn H, sinh năm 1993 tại T - An Giang. Nơi cư trú: Khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tấn S và bà Hà Thị Thu V; chưa có vợ, con.

Tiền án:

  • + Ngày 18/8/2020, bị Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang, xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 29/4/2021.
  • + Ngày 01/3/2022, bị Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong 25/3/2023.

Tiền sự: Không.

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/8/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thị xã T (có mặt).

- Bị hại: Ông Trần Anh T, sinh năm 1975; Nơi cư trú: Khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Tấn S, sinh năm 1966; Nơi cư trú: Khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. (vắng mặt)

- Người làm chứng: Ông Võ Công Phi L (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ ngày 16/08/2024, Nguyễn Tuấn H chuẩn bị các công cụ (kiềm, kéo, gờ le...) để vào 01 bọc nylon màu đen và điều khiển xe mô tô biển số 67H7 – 2719 (của cha ruột), đi tìm lấy trộm đồng hồ nước để bán lấy tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng. Đến khoảng 03 giờ cùng ngày, H dừng lại trước vườn mai của Trần Anh T thuộc khu vực mương số 02, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang để sửa xe; Hiện thấy 01 cái đồng hồ nước được lắp đặt bên ngoài hàng rào vườn mai, không có người trông giữ, đi đến lấy trộm. Hiện lấy dụng cụ, mở hộp chứa đồng hồ nước, dùng kéo chuẩn bị cắt đồng hồ nước thì bị lực lượng tuần tra Công an phường L phát hiện, bắt quả tang.

Quá trình xác minh, xác định: ngày 01/3/2022, Nguyễn Tuấn H đã bị Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong 25/3/2023.

* Vật chứng thu giữ:

  • - 01 (một) xe mô tô biển số 67H7-2719, có số khung: LF0100200101365; Số máy: 1P50FMG310771534 (đã qua sử dụng và đã trả lại chủ sở hữu hợp pháp);
  • - 01 (một) bọc nilong màu đen bên trong có chứa:
    • + 01 (một) cây kéo bằng kim loại có tay cầm bọc nhựa màu đen (đã qua sử dụng và đã trả lại chủ sở hữu hợp pháp);
    • + 01 (một) cây kiềm cắt bằng kim loại có tay cầm bằng nhựa màu đỏ - đen (đã qua sử dụng và đã trả lại chủ sở hữu hợp pháp);
    • + 01 (một) cây kéo cắt kiểng bằng kim loại màu xám (đã qua sử dụng và đã trả lại chủ sở hữu hợp pháp);
    • + 01 (một) cây tua vít bằng kim loại có tay cầm bằng nhựa (đã qua sử dụng và đã trả lại chủ sở hữu hợp pháp);
    • + 04 (bốn) cây gờ lê (chìa khoá) bằng kim loại có kích thước in hình các số 13;14;17;19 (đã qua sử dụng và đã trả lại chủ sở hữu hợp pháp);
  • - 01 (một) đèn pin cầm tay màu đỏ (đã qua sử dụng);
  • * Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 911/KL-TTHS ngày 16/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản, trong tố tụng hình sự thị xã T, kết luận: 01 (một)đồng hồ nước (đã qua sử dụng) trị giá 320.000 đồng (Ba trăm hai mươi nghìn đồng).

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường.

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số : 02/QĐ-VKSTC ngày 29/8/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu đã truy tố Nguyễn Tuấn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Quyết định truy tố đã nêu trên. Mục đích lấy trộm tài sản nhằm bán lấy tiền mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân.

Bị hại Trần Anh T vắng mặt tại phiên tòa, quá trình điều tra có lời khai hoàn toàn phù hợp với lời khai bị cáo, nội dung vụ án và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị hại không có yêu cầu bồi thường, yêu cầu xử lý bị cáo theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng đều có lời khai phù hợp với nội dung Quyết định truy tố, phù hợp với các lời khai khác và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, vai trò tham gia trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn H từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo; đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.

Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều thực hiện đúng pháp luật.

Tại phiên toà, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt, dù đã được Toà án tống đạt giấy triệu tập hợp lệ.

Xét thấy, sự vắng mặt họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án; căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo Nguyễn Tuấn H đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Quyết định truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 01 giờ ngày 16/08/2024, Nguyễn Tuấn H đã có hành vi chuẩn bị các công cụ (kiềm, kéo, gờ le...) để vào 01 bọc nylon màu đen rồi điều khiển xe mô tô biển số 67H7 – 2719 (của cha ruột) đi tìm lấy trộm đồng hồ nước để bán lấy tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng. Khi đến vườn mai của bị hại Trần Anh T thấy đồng hồ nước để bên ngoài, bị cáo lấy dụng cụ, mở hộp chứa đồng hồ nước, dùng kéo chuẩn bị cắt đồng hồ nước thì bị lực lượng tuần tra Công an phường L phát hiện, bắt quả tang. Giá trị tài sản 320.000 đồng.

Ngày 01/3/2022, Nguyễn Tuấn H đã bị Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong 25/3/2023, chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo đã bị kết án về hành vi trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Tuấn H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Lẽ ra phải lao động tích cực, rèn luyện tu dưỡng để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Nhưng ngược lại, vì muốn có tiền tiêu xài, sử dụng ma túy mà không phải lao động nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo chưa thực hiện được hành vi chiếm đoạt tài sản là do bị phát hiện, nằm ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo. Do đó, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt.

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Tuy nhiên, xét về nhân thân bị cáo có nhân thân xấu, từng bị xử phạt hành chính, xử lý hình sự về hành vi trộm cắp tài sản. Sau khi chấp hành xong hình phạt lại tiếp tục hành vi trộm cắp tài sản. Thể hiện bản chất xem thường pháp luật, ý thức chấp hành kém nên trong lần phạm tội này cần phải có một mức án nghiêm mới đủ sức giáo dục, răn đe bị cáo và đồng thời phòng ngừa chung..

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm, khoản, điều luật, đồng thời đề nghị áp dụng hình phạt tù, mức hình phạt đối với bị cáo như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với các vật chứng vụ án đã được trao trả lại chủ sở hữu hợp pháp trong giai đoạn điều tra theo đúng quy định nên không xem xét xử lý.

Đối với: 01 (một) đèn pin cầm tay màu đỏ (đều đã qua sử dụng) công cụ bị cáo sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu bồi thường thiệt hại gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8] Về các vấn đề khác:

Đối với ông Nguyễn Tấn S, khi bị cáo sử dụng xe mô tô biển số 67H7 – 2719 để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thì ông không biết nên không xem xét trách nhiệm là có căn cứ.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn H 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 16/8/2024).

2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) đèn pin cầm tay màu đỏ (đều đã qua sử dụng).

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/9/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu)

3. Căn cứ vào Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Tuấn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

4. Căn cứ các Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 16/9/2024) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang (01);
  • - VKSND tỉnh An Giang (01);
  • - VKSND TX. Tân Châu (02);
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang (01);
  • - Nhà Tạm giữ (01);
  • - Cơ quan CSĐT Công an Tân Châu (01);
  • - Thi hành án DS huyện (01);
  • - Bộ phận THAHS Tòa án (04);
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú (01);
  • - Bị cáo, bị hại, liên quan (nếu có);
  • - Lưu hồ sơ vụ án (01);
  • - Lưu văn phòng (01).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

Huỳnh Minh Nhựt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/HS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 76/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BỊ CÁO NGUYỄN TUẤN H PHẠM TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger