|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LANG GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 76/2024/HS-ST Ngày 16-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thiêm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đồng Văn Diện
2. Ông Trần Thành Đô
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên tòa: Ông Vi Đức Thứ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 71/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66A/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
- * La Anh D, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1993. Tên gọi khác: không.
- - Quê quán: xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn;
- - Nơi thường trú: Thôn B, xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn;
- - Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam;
- - Con ông La Trần H, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1973; bị cáo chưa có vợ con.
- - Tiền án, tiền sự: không;
- - Nhân thân: Bản án số 109/2019/HSST ngày 29/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt D 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/8/2020 và chấp hành xong án phí ngày 26/02/2020;
- - Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/5/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, Công an huyện L - (Có mặt tại phiên tòa).
- * Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông La Trần H, sinh năm 1971. Địa chỉ: Thôn B, xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn – có mặt.
- * Người làm chứng: Anh Trương Văn H1, sinh năm 2000. Địa chỉ: Thôn G, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang – vắng mặt.
- * Người chứng kiến:
- 1. Ông Hoàng Văn N1, sinh năm 1968. Địa chỉ: Thôn G, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang – vắng mặt.
- 2. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1968. Địa chỉ: Thôn S, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang – vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 19 giờ 45 phút ngày 17/5/2024 tại đoạn đường liên thôn trước cổng Trường THCS xã N thuộc địa phận thôn S, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện L phát hiện bắt quả tang đối tượng La Anh D, sinh năm 1993, trú tại: Thôn B, xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ vật chứng gồm:
+ 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy tổng hợp được thu giữ tại túi quần phía trước bên phải D đang mặc (niêm phong trong phong bì ký hiệu "QT");
+ 01 điện thoại di động Iphone màu đồng; 01 xe mô tô Honda Wave, biển kiểm soát 12H1- 155.79; 01 ví giả da màu nâu; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô 12H1- 155.79 mang tên La Trần H và 01 giấy phép lái xe mang tên La Anh D.
Ngay sau khi bắt quả tang, Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra chất ma túy đối với D, kết quả: D dương tính với ma túy Methamphetamine. Ngày 18/5/2024, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của D nhưng không phát hiện, thu giữ đồ vật tài sản gì liên quan đến hành vi phạm tội.
Tại Cơ quan điều tra, La Anh D khai nhận: Khoảng 22 giờ ngày 16/5/2024, D đi xe mô tô Honda Wave, biển kiểm soát 12H1- 155.79 của bố đẻ là ông La Trần H, sinh năm 1971 từ nhà sang xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang để mua ma túy về sử dụng. Tại đây, D gặp một người đàn ông không quen biết và đặt vấn đề mua 400.000 đồng ma túy. Người này đồng ý, cầm tiền rồi đưa lại cho D 01 túi nilon màu trắng, có rãnh khóa nhựa viền màu đỏ, bên trong đựng ma túy đá. Sau khi mua được ma túy, D đi đến cầu K thuộc thôn N, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang thì dừng lại rồi đi xuống gầm cầu và bỏ một ít ma túy vừa mua được ra sử dụng. Sử dụng xong, D cất số ma túy còn lại vào túi quần trước bên phải đang mặc rồi đi về nhà. Đến khoảng 19 giờ ngày 17/5/2024, D mặc chiếc quần có để gói ma túy rồi điều khiển xe mô tô 12H1- 155.79 đi sang nhà Trương Văn H1, sinh năm 2000 ở thôn G, xã N, huyện L là bạn của D để đón H1 đi xuống thôn B, xã N uống nước. Ngồi uống nước được một lúc thì H1 có việc nên D điều khiển xe mô tô 12H1- 155.79 chở H1 về. Khoảng 19 giờ 45 phút cùng ngày, khi D chở H1 về đến đoạn đường trước cổng Trường THCS N thuộc thôn S, xã N thì bị lực lượng công an dừng xe kiểm tra và phát hiện bắt quả tang D đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tại kết luận giám định số 1089/KL-KTHS ngày 20/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:
- “Trong 01 phong bì ký hiệu “QT” niêm phong gửi giám định: Chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu rãnh khóa nhựa và viền màu đỏ là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,351gam”.
Bản cáo trạng số 71/CT-VKS ngày 12/7/2024 của VKSND huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo La Anh D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo La Anh D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác thể hiện tại hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa.
Ông La Trần H là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án trình bày: Ông là bố đẻ của bị cáo La Anh D, xe mô tô 12H1- 155.79 là tài sản của ông, hàng ngày ông cho bị cáo mượn xe để đi làm tại Công ty M. Trong ngày 16 và ngày 17/5/2024 bị cáo sử dụng xe để đi mua ma túy và sau đó bị Cơ quan công an bắt quả tang thì ông không biết sự việc đó, bị cáo chỉ mượn xe để đi làm như hàng ngày. Quá trình giải quyết vụ án ông đã được Cơ quan điều tra trả lại chiếc xe mô tô 12H1- 155.79, nay ông không có yêu cầu gì trong vụ án này.
Những người làm chứng, người chứng kiến vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã trích đọc lời khai của những người này tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về lời khai của họ.
Tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo D từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 17/5/2024. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS xử lý về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định là chất nhà nước cấm tàng trữ lưu hành; Trả lại cho bị cáo D 01 điện thoại Iphone màu đồng, 01 ví giả da màu nâu và 01 giấy phép lái xe là tài sản cá nhân của D tuy nhiên cần tạm giữ tài sản để thi hành án. Ngoài ra còn đề nghị tuyên quyền kháng cáo cho những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng các quy định về thẩm quyền, trình tự tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, xác định các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp.
- [2]. Về tội danh: Tại phiên tòa, hành vi phạm tội của bị cáo La Anh D đã được chứng minh, xác định: Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 17/5/2024 tại khu vực đường liên thôn trước cổng Trường THCS xã N thuộc địa phận thôn S, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang, La Anh D, sinh năm 1993 ở thôn B, xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn có hành vi tàng trữ trái phép 0,351gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang thu giữ toàn bộ số ma túy nêu trên.
Lời khai của bị cáo D tại phiên tòa đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, bị cáo thừa nhận đã tàng trữ số ma túy trên mục đích để sử dụng, lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang cũng như vật chứng đã được thu giữ, phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm. Bị cáo D có hành vi tàng trữ số ma túy trên, với khối lượng như trên, đã có đủ cơ sở để chứng minh bị cáo D đã phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ Luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
- [3]. Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước việc mua bán, tàng trữ, sử dụng các chất ma túy của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an của địa phương và là nguyên nhân làm phát sinh một số tội phạm nguy hiểm khác. Nhưng chỉ vì để thỏa mãn nhu cầu của cá nhân, bị cáo đã cố ý phạm tội nên cần phải xử phạt nghiêm để đảm bảo giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội này.
- [4]. Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2019 bị TAND huyện Lạng Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.
- [5]. Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, cần xem xét, áp dụng khi quyết định hình phạt.
- [6]. Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
- [7]. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, lẽ ra cần áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo để sung công quỹ Nhà nước. Song xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy không có nghề nghiệp, không có thu nhập, sống phụ thuộc vào gia đình nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát khi luận tội và đề xuất mức án cần xử phạt đối với bị cáo trong vụ án này Hội đồng xét xử xét thấy mức án đại diện Viện kiểm sát đề nghị phù hợp quy định pháp luật.
Do bị cáo đang bị tạm giam nên cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án theo quy định Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.
- [8]. Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo, bị cáo khai không quen biết, không rõ địa chỉ cụ thể. Ngoài lời khai của bị cáo không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra làm rõ do đó HĐXX không xem xét;
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của D, ngày 01/6/2024 Công an huyện L đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với D (phạt tiền 1.500.000 đồng) là phù hợp do đó HĐXX không xem xét.
Đối với Trương Văn H1 là người đi cùng bị cáo D nhưng H1 không biết việc D tàng trữ trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý do đó HĐXX không xem xét.
- [9]. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,314 gam ma túy Methamphetamine hoàn lại sau giám định; 01 điện thoại Iphone màu đồng, 01 ví giả da màu nâu và 01 giấy phép lái xe là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo tuy nhiên cần tạm giữ tài sản 01 điện thoại Iphone màu đồng để đảm bảo thi hành án.
- [10]. Về án phí: Buộc bị cáo La Anh D phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- 1. Về áp dụng điều luật và hình phạt:
- - Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 332, Điều 333, Điều 336 và Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1, Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- - Xử phạt bị cáo La Anh D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 17/5/2024.
- - Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
- 2. Về giải quyết vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy 0,314 gam ma túy Methamphetamine hoàn lại sau giám định;
- - Trả lại cho bị cáo La Anh D: 01 điện thoại Iphone, màu đồng, số imel 355846081717149 (imel trong máy không kiểm tra được); 01 chiếc ví giả da màu nâu, trên ví có chữ “VERSACE” và 01 giấy phép lái xe mang tên La Anh D nhưng cần tạm giữ tài sản 01 điện thoại Iphone, màu đồng, số imel 355846081717149 (imel trong máy không kiểm tra được) để đảm bảo thi hành án.
- 3. Về án phí: Buộc bị cáo La Anh D phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- 4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
(Đặc điểm của vật chứng theo như biên bản giao nhận vật chứng số 85, ngày 16/7/2024 giữa Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy, Công an huyện L và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự .
Án xử công khai sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Thiêm |
Bản án số 76/2024/HS-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 76/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: La Anh Dũng
