|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 76/2024/HS-ST Ngày 16- 5- 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Song Hải
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Bích Lý
Ông Nguyễn Văn Hạnh
Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thúy An - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 65/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 356/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Đình V, sinh ngày 12 tháng 9 năm 1976 tại Thái Bình; nơi cư trú: Thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình Q (đã chết) và bà Nguyễn Thị M; có vợ là Trần Thị H và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ ngày 12/12/2023; tạm giam ngày 19/12/2023; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Duy K - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 30 phút ngày 12/12/2023, Công an phường A, quận L, Hải Phòng làm nhiệm vụ tuần tra trên địa bàn phường, phát hiện Trần Đình V điều khiển xe mô tô tại khu vực đầu ngõ A T có biểu hiện nghi vấn về ma túy nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Quá trình kiểm tra, đã phát hiện, thu giữ tại lòng bàn tay trái của V 01 túi nilon màu trắng kích thước 6,5 x 10 cm bên trong chứa chất bột màu trắng, nghi là ma túy. Tổ công tác tiến hành thu giữ túi nilon trên và đưa V về trụ sở Công an phường lập biên bản giải quyết. Ngoài ra, còn thu giữ của V 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave Anpha BKS 16K3-3454; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màn hình cảm ứng đã qua sử dụng; số tiền 200.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số 1019/KL-KTHS ngày 15/12/2023 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận: chất bột thu giữ của V là ma túy, có khối lượng 0,18 gam, là loại Heroin.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Đình V khai: khoảng 11 giờ 15 phút ngày 12/12/2023, V điều khiển xe mô tô Wave Anpha BKS 16K3-3454 đi từ Bến xe T đến đường T, quận L để mua ma túy H1 về sử dụng cho bản thân. Tại đây, V gặp và giao dịch mua ma túy với một người nam giới (đến nay V không rõ lai lịch, địa chỉ), người này bảo V đi theo để lấy ma túy. V cùng người nam giới đi vào ngõ A T, phường A, quận L, Hải Phòng khoảng 20m, người nam giới bảo V đưa tiền, V đưa 200.000 đồng thì người này nhận tiền và lấy từ trong người ra 01 gói nilon màu trắng chứa chất bột màu trắng đưa cho V, V biết là H1 nên nhận và cầm bằng tay trái rồi lên xe đi về. Khi V đi đến đầu ngõ A T thì bị lực lượng Công an phường A, quận L, Hải Phòng kiểm tra bắt giữ như đã nêu trên.
Đối với người nam giới bán ma túy cho V, do không xác định được căn cước, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L có cơ sở để điều tra.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Wave Anpha BKS 16K3-3454, quá trình điều tra xác định thuộc sở hữu hợp pháp của anh Vũ Văn N, trú tại: tổ E C, phường H, quận H, Hải Phòng. Sáng ngày 12/12/2023, Trần Đình V (là bạn xã hội) mượn xe của anh N, nói đi có việc. Anh N không biết V sử dụng xe mô tô của anh để đi mua ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe cho anh N
Tại bản Cáo trạng số 67/CT-VKSLC ngày 26/3/2024 Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố bị cáo Trần Đình V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng, bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Đình V mức án từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong lượng ma túy và vỏ bao gói còn lại sau giám định.
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màn hình cảm ứng đã qua sử dụng; số tiền 200.000 đồng không liên quan đến việc phạm tội.
Về án phí: Bị phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, người bào chữa không có ý kiến tranh luận đối với tội danh mà Bản cáo trạng Viện Kiểm sát nhân dân quận L đã truy tố. Chỉ có ý kiến, bị cáo là người nhiễm chất độc màu da cam hiện đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và áp dụng mức hình phạt thấp nhất đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, báo cáo bắt giữ của lực lượng công an, kết luận giám định, vật chứng thu giữ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Hồi 11 giờ 30 phút ngày 12/12/2023, tại khu vực đầu ngõ A T, phường A, quận L, Hải Phòng, Trần Đình V bị bắt quả tang khi đang cất giữ trái phép chất 0,18 gam ma túy là loại Heroin với mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo thỏa mãn cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân quận L, thành phố Hải Phòng truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Hiện nay, tệ nạn ma túy đang là hiểm họa lớn đối với toàn xã hội, gây tác hại xấu cho sức khỏe con người, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và là tác nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội khác. Vì vậy cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân của bị cáo.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo là người nhiễm chất độc màu da cam hiện đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6]Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên Hội đồng xét xử thấy rằng mặc dù bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng với lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ cần xử phạt bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới đủ tác dụng cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên, cũng xem xét đề nghị của người bào chữa để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[8] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”. HĐXX xét bị cáo là là người nhiễm chất độc màu da cam, không có công việc thu nhập ổn định và không có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[9] Về xử lý vật chứng: Hiện Chi cục thi hành án dân sự quận L đang quản lý 01 phong bì đã niêm phong bên trong đựng số ma túy còn lại sau giám định. Xét thấy, số vật chứng này liên quan đến việc phạm tội, là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màn hình cảm ứng đã qua sử dụng; số tiền 200.000 đồng thu giữ của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo nhưng cần tiếp tục tạm giữ số tiền 200.000 đồng để đảm bảo thi hành án.
[10] Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự ; Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Đình V 15 ( Mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12 tháng 12 năm 2023.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng lượng ma túy cùng vỏ bao bì còn lại sau giám định có số 1019MT/PC09.
Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màn hình cảm ứng đã qua sử dụng.
Trả lại bị cáo số tiền 200.000 đồng nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Theo biên bản giao nhận tài sản, vật chứng ngày 27/03/204 giữa Công an quận L và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng và theo Ủy nhiệm chi lập ngày 29/3/2024 của Công an quận L nộp tiền vào tài khoản 3949.0.1012022.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân).
Về án phí: Áp dụng Điều 135; điều 136; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Trần Đình V có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Song Hải |
Bản án số 76/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 76/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Đình Vinh tàng trữ trái phép chất ma túy
