|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 76/2024/HS-PT Ngày: 15/11/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy Huyền
- - Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Nhật Duật
- Ông Trần Quang Cường
Thư ký phiên toà: Bà Tô Thị Lan Phương, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thành Long, Kiểm sát viên.
Ngày 15/11/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 84/2024/TLPT-HS ngày 11/9/2024 đối với bị cáo Lý Văn D, Trần Văn M, Phùn Tiến Q, Nguyễn Đăng B, Hà Minh L, Hoàng Văn T, Lý Văn Q1, Đỗ Văn L1, Vũ Quang N do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 62/2024/HSST ngày 23/7/2024 của Toà án nhân dân thành phố Móng Cái.
- Họ và tên các bị cáo có kháng cáo:
- Lý Văn D (tên gọi khác: không), sinh ngày 15/11/1985 tại huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn; nơi cư trú: thôn E, xã Q, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lý Văn B1 và bà Hoàng Thị B2; có vợ là Chưởng Thị N1 và 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 12/01/2024, bị tạm giam từ ngày 21/01/2024 đến ngày 11/03/2024, được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp Bảo lĩnh. Hiện tại ngoại tại nơi cư trú - có mặt tại phiên tòa.
- Trần Văn M (tên gọi khác: không), sinh ngày 19/9/1992 tại thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: thôn E, xã Q, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn N2 và bà Đỗ Thị M1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 12/01/2024, bị tạm giữ đến ngày 21/01/2024, được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại tại nơi cư trú - có mặt tại phiên tòa.
- Phùn Tiến Q (tên gọi khác: không), sinh ngày 27/02/1986 tại huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn; nơi cư trú: thôn E, xã Q, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phùn M và bà Hoàng Thị H; có vợ là Phùn Thị N3 và 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 12/01/2024, bị tạm giữ đến ngày 21/01/2024, được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại tại nơi cư trú - có mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Đăng B (tên gọi khác: không), sinh ngày 06/02/1989 tại thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: thôn D, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Đăng Đ và bà Phạm Thị T1; có vợ là Lê Thị T2 và 02 con, con lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 12/01/2024, bị tạm giữ đến ngày 21/01/2024, được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại tại nơi cư trú - có mặt tại phiên tòa.
- Hà Minh L (tên gọi khác: không), sinh ngày 21/8/1980 tại huyện B, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: thôn E, xã Q, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hà Văn Đ1 (đã chết) và bà Tăng Tài M2 (đã chết); có vợ là Lý Thị Ú và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 12/01/2024, bị tạm giữ đến ngày 21/01/2024, được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại tại nơi cư trú - có mặt tại phiên tòa.
- Hoàng Văn T (tên gọi khác: không), sinh ngày 15/12/1993 tại huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn; nơi cư trú: thôn E, xã Q, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Văn K và bà Trương Thị S; có vợ là Lý Thị L2 và 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 12/01/2024, bị tạm giữ đến ngày 21/01/2024, được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại tại nơi cư trú - có mặt tại phiên tòa.
- Lý Văn Q1 (tên gọi khác: không), sinh ngày 11/3/2001 tại thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: thôn E, xã Q, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lý Văn N4 và bà Tằng Ửng M3; có vợ là T3 Si Múi và 01 con sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo đầu thú ngày 12/01/2024, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại tại nơi cư trú - có mặt tại phiên tòa.
- Đỗ Văn L1 (tên gọi khác: không), sinh ngày 27/4/1993 tại thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: thôn E, xã Q, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đỗ Thiện T4 và bà Đinh Thị T5; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo đầu thú ngày 13/4/2024, bị tạm giữ đến ngày 16/4/2024, được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại tại nơi cư trú - có mặt tại phiên tòa.
- Vũ Quang N (tên gọi khác: không), sinh ngày 12/9/2003 tại thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: thôn E, xã Q, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Văn T6 và bà Ngô Thị D1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo đầu thú ngày 17/4/2024, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại tại nơi cư trú - có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho các bị cáo Lý Văn D, Phùn Tiến Q, Nguyễn Đăng B, Hà Minh L, Hoàng Văn T, Lý Văn Q1, Đỗ Văn L1: Bà Quách Thị Quỳnh M4, luật sư Công ty L3 – Đoàn Luật sư tỉnh Q. Có mặt.
Trong vụ án còn có bị cáo Đào Tiến Q2, sinh ngày 14/8/1983; nơi cư trú: thôn E, xã Q, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh không có kháng cáo, không bị kháng nghị và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Chưởng Thị N1, sinh năm 1985, nơi cư trú: thôn E, xã Q, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh không có kháng cáo, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 12/01/2024, Lý Văn D đang ở quầy bán tạp hóa trước cửa nhà của D tại thôn E, xã Q, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, thì Vũ Quang N, Đào Tiến Q2 và Phùn Tiến Q đến ngồi chơi, uống nước. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, D rủ N, Q2 và Q đánh bạc trái phép, được thua bằng tiền dưới hình thức đánh “Liêng”, N, Q2 và Q đồng ý. Sau đó, D lấy 01 bộ tú lơ khơ gồm 52 lá bài trên quầy tạp hóa, rồi bảo mọi người vào phòng ngủ của con D và dùng 02 chiếc chiếu nhựa cho cả nhóm làm chỗ ngồi để đánh bạc.
Hình thức chơi được quy định như sau: 04 người chơi, mỗi người được chia 03 lá bài, trước mỗi ván chơi mỗi người bỏ ra 20.000 đồng để vào giữa chiếu bạc gọi là tiền “gà”. Sau khi chia bài, người chơi có quyền tố thêm tiền hoặc bỏ bài. Nếu người chơi thấy bài của mình thắng được bài của những người chơi còn lại thì tố thêm tiền “gà”, nếu thấy thua bài của những người chơi còn lại thì bỏ bài. Người chơi được tố tiền từ 20.000 đồng đến 200.000 đồng. Lần lượt từng người chơi có thể tố thêm tiền hoặc bỏ bài theo thứ tự, nhưng không quá 200.000 đồng/01 lần tố. Người thắng là người không bỏ bài, trong khi những người chơi khác đều bỏ bài hoặc so bài với những người không bỏ bài, người nào có bài cao nhất thì thắng toàn bộ số tiền “gà” và tiền tố thêm. Quy ước so bài như sau: “Sáp” là to nhất, tức là người chơi có 03 lá bài giống nhau, to nhất là sáp A, nhỏ nhất là sáp 2; tiếp theo gọi “Liêng”, tức là người chơi có 03 lá bài liền nhau (3,4,5 hoặc J, Q, K), trong đó liêng Q, K, A là to nhất, 1, 2,3 là nhỏ nhất; tiếp theo là “Ảnh”, tức là người chơi có 03 lá bài (J, Q, K) nhưng không phải là “Sáp” hoặc “Liêng” và sau cùng là điểm, tức là 03 lá bài người chơi không có “Sáp”, “Liêng” hoặc “Ảnh” sẽ cộng 03 lá bài với nhau, trong đó to nhất là 9 điểm, nhỏ nhất là 0 điểm, át tính là 1 điểm, J, Q, K
đơn lẻ tính là 0 điểm. Trường hợp người chơi có “Liêng”, “Ảnh” hoặc điểm bằng nhau thì tính theo chất, to nhất là chất rô rồi đến cơ, bích và chất nhép là nhỏ nhất. Đến khoảng 12 giờ 40 phút cùng ngày, Lý Văn Q1, Hoàng Văn T, Nguyễn Đăng B, Đỗ Văn L1, Hà Minh L và Trần Văn M đến chơi cùng D, N, Q1 và Q.
Cả nhóm chơi đánh bạc bằng hình thức đánh “Liêng” như nêu trên đến khoảng 15 giờ ngày 12/01/2024, thì bị Công an thành phố M kiểm tra, bắt quả tang 06 đối tượng Lý Văn D, Trần Văn M, Phùn Tiến Q, Nguyễn Đăng B, Hà Minh L và Hoàng Văn T đang có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền, thu giữ tại chiếu bạc 5.360.000 đồng, 01 bộ tú lơ khơ gồm 52 lá bài và 02 chiếc chiếu nhựa, kích thước (02x1,5)m. Thu của Lý Văn D 60.000 đồng; Nguyễn Đăng B 1.000.000 đồng; Hà Minh L 1.100.000 đồng; Hoàng Văn T 140.000 đồng; Phùn Tiến Quân 2.000.000 đồng do D, B, L, T và Q tự lấy trong người ra giao nộp. Còn Đào Văn Q3, Lý Văn Q1, Vũ Quang N và Đỗ Văn L1 lợi dụng sơ hở bỏ chạy, đến các ngày 13 và 21/01/2024, ngày 13 và 17/4/2024, Đào Văn Q3, Lý Văn Q1, Đỗ Văn L1 và Vũ Quang N đến Công an thành phố M đầu thú.
Về số tiền dùng để đánh bạc các bị cáo khai nhận: D bỏ ra số tiền khoảng 300.000 đồng đến khi bị bắt còn lại số tiền 60.000 đồng bị thu giữ. L bỏ ra 600.000 đồng, khi bị bắt thu giữ 1.100.000 đồng bao gồm cả tiền thắng bạc. T bỏ ra 80.000 đồng, đã thắng 60.000 đồng, khi bị bắt thu giữ 140.000 đồng. B bỏ ra hơn 500.000 đồng và đã thua hết, còn 1.000.000 đồng không sử dụng để đánh bạc. Q bỏ ra hơn 500.000 đồng và đã thua hết, còn 2.000.000 đồng không sử dụng để đánh bạc. M bỏ ra khoảng 500.000 đồng để đánh bạc và đã thua hết. Đào Tiến Q2 bỏ ra khoảng 1.000.000 đồng. Lý Văn Q1 bỏ ra số tiền 500.000 đồng. Lập bỏ ra khoảng 1.340.000 đồng và N bỏ ra 800.000 đồng để đánh bạc, khi bị Công an kiểm tra Đào Tiến Q2, Lý Văn Q1, N và L1 đã bỏ lại hết tiền dưới chiếu bạc. Tổng số tiền thu giữ là 9.660.000 đồng, trong đó: 3.000.000 đồng thu của B, Q không sử dụng đánh bạc, còn lại 6.660.000 đồng các bị cáo sử dụng để đánh bạc gồm: 5.360.000 đồng thu dưới chiếu bạc và 1.300.000 đồng thu trên người D, L, T.
Tại Cơ quan điều tra, quá trình truy tố và xét xử sơ thẩm các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 62/2024/HS-ST ngày 23/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái quyết định: căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự (riêng bị cáo Đào Tiến Q2 không áp dụng điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS; các bị cáo Đào Tiến Q2, Lý Văn Q1, Đỗ Văn L1, Vũ Quang N còn áp dụng khoản 2 Điều 51 BLHS) xử phạt bị cáo Lý Văn D 09 tháng tù, thời hạn tù từ ngày bắt thi hành án, (được trừ đi những ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/01/2024 đến 11/03/2024); xử phạt các bị cáo Đào Tiến Q2, Trần Văn M, Phùn Tiến Q, Nguyễn Đăng B, Hà Minh L, Hoàng Văn T, Lý Văn Q1, Đỗ Văn L1, Vũ Quang N mỗi bị cáo 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, trừ thời gian tạm giữ, tạm giam đối với từng bị cáo.
Ngoài ra, bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và báo quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 01/8/2024 và ngày 02/8/2024 các bị cáo Lý Văn D, Phùn Tiến Q, Nguyễn Đăng B, Hà Minh L, Hoàng Văn T, Lý Văn Q1, Đỗ Văn L1, Trần Văn M, Vũ Quang N kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lý Văn D, Phùn Tiến Q, Nguyễn Đăng B, Hà Minh L, Hoàng Văn T, Lý Văn Q1, Đỗ Văn L1, Trần Văn M, Vũ Quang N giữ nguyên quan điểm kháng cáo xin hưởng án treo, đưa ra các căn cứ: trước khi phạm tội, các bị cáo đều là những công dân tốt, không có tiền án, tiền sự; là lao động chính trong gia đình, gia đình có hoàn cảnh khó khăn; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
Người bào chữa cho các bị cáo Lý Văn D, Phùn Tiến Q, Nguyễn Đăng B, Hà Minh L, Hoàng Văn T, Lý Văn Q1, Đỗ Văn L1 trình bày quan điểm: Nhất trí về tội danh và điều luật đã truy tố, xét xử sơ thẩm đối với các bị cáo nêu trên, luật sư đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng (điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS); các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải ( điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS); đa phần các bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp, là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh gia đình khó khăn; các bị cáo tự nguyện nộp án phí HSST trước khi mở phiên tòa phúc thẩm (khoản 2 Điều 51 BLHS) chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lý Văn D, Phùn Tiến Q, Nguyễn Đăng B, Hà Minh L, Hoàng Văn T, Lý Văn Q1, Đỗ Văn L1.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự; chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lý Văn D, Phùn Tiến Q, Nguyễn Đăng B, Hà Minh L, Hoàng Văn T, Lý Văn Q1, Đỗ Văn L1, Trần Văn M, Vũ Quang N, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt tù, cho các bị cáo hưởng án treo.
Các bị cáo và người bào chữa không tranh luận; lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: đơn kháng cáo của các bị cáo Lý Văn D, Phùn Tiến Q, Nguyễn Đăng B, Hà Minh L, Hoàng Văn T, Lý Văn Q1, Đỗ Văn L1, Trần Văn M, Vũ Quang N làm trong hạn luật định nên chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về tội danh: quá trình điều tra, xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lý Văn D, Phùn Tiến Q, Nguyễn Đăng B, Hà Minh L, Hoàng Văn T, Lý Văn Q1, Đỗ Văn L1, Trần Văn M, Vũ Quang N đã khai nhận hành vi như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan, lời khai của những người làm chứng, bản ảnh hiện trường, vật chứng thu giữ. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái xét xử các bị cáo nêu trên về tội: “Đánh bạc” theo điểm quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm các bị cáo Lý Văn D, Phùn Tiến Q, Nguyễn Đăng B, Hà Minh L, Hoàng Văn T, Lý Văn Q1, Đỗ Văn L1, Trần Văn M, Vũ Quang N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tất cả 09 bị cáo đều có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo đánh bạc với số tiền chỉ trên mức tối thiểu của khung hình phạt. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm các bị cáo Lý Văn D, Phùn Tiến Q, Nguyễn Đăng B, Hà Minh L, Hoàng Văn T, Lý Văn Q1, Đỗ Văn L1 nộp đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phương, nên có căn cứ áp dụng cho các bị cáo nêu trên tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Xét thấy, quá trình sinh sống ở địa phương các bị cáo luôn là công dân tốt, không có tiền án, tiền sự, đa số các bị cáo là người dân tộc Dao, trình độ văn hóa thấp, gia đình hoàn cảnh khó khăn, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi của các bị cáo không đáng kể, các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, để các bị cáo cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình cũng đảm báo tính răn đe, phòng ngừa. Do đó, hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo của các bị cáo Lý Văn D, Phùn Tiến Q, Nguyễn Đăng B, Hà Minh L, Hoàng Văn T, Lý Văn Q1, Đỗ Văn L1, Trần Văn M, Vũ Quang N, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hương án treo đối với các bị cáo nêu trên.
[4] Về án phí phúc thẩm: do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo Lý Văn D, Phùn Tiến Q, Nguyễn Đăng B, Hà Minh L, Hoàng Văn T, Lý Văn Q1, Đỗ Văn L1, Trần Văn M, Vũ Quang N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lý Văn D, Trần Văn M, Phùn Tiến Q, Nguyễn Đăng B, Hà Minh L, Hoàng Văn T, Lý Văn Q1, Đỗ Văn L1, Vũ Quang N. Sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên hình phạt tù và cho hưởng án treo đối với các bị cáo.
[1] Tuyên bố: bị cáo Lý Văn D, Phùn Tiến Q,Nguyễn Đăng B, Hà Minh L, Hoàng Văn T, Lý Văn Q1, Đỗ Văn L1, Trần Văn M, Vũ Quang N phạm tội “Đánh bạc”.
-
Căn cứ: khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: bị cáo Lý Văn D 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự
Xử phạt: bị cáo Trần Văn M 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự
Xử phạt: bị cáo Phùn Tiến Q 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Đăng B 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự
Xử phạt: bị cáo Hà Minh L 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự
Xử phạt: bị cáo Hoàng Văn T 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: bị cáo Lý Văn Q1 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: bị cáo Đỗ Văn L1 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: bị cáo Vũ Quang N 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao các bị cáo Lý Văn D, Phùn Tiến Q, Trần Văn M, Hà Minh L, Hoàng Văn T, Lý Văn Q1, Đỗ Văn L1, Vũ Quang N cho Ủy ban nhân dân xã Q, thành phố M giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Giao bị cáo Nguyễn Đăng B cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Q, xã Q trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.
[2] Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng Hình sự: hủy Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 65,66,67,68,69,70,72,73,74/2024/LCĐKNCT-TA và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 90,91,92,93,94,95,97,98,99/QĐ-TA cùng ngày 23/7/2024 đối với các bị cáo Lý Văn D, Trần Văn M, Phùn Tiến Q, Nguyễn Đăng B, Hà Minh L, Hoàng Văn T, Lý Văn Q1, Đỗ Văn L1, Vũ Quang N của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
[3] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Các bị cáo Lý Văn D, Trần Văn M, Phùn Tiến Q, Nguyễn Đăng B, Hà Minh L, Hoàng Văn T, Lý Văn Q1, Đỗ Văn L1, Vũ Quang N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Trần Quang Cường Nguyễn Nhật Duật |
Nguyễn Thị Thúy Huyền |
Nơi nhận:
- - VKSND tỉnh Q.Ninh;
- - CA, VKS, TA tp Móng Cái;
- - Bị cáo; Cq THAHS tp Móng Cái;
- - THA; STP
- - Lưu.
Nơi nhận:
- - VKSND tỉnh Q.Ninh;
- - CA, VKS, TA tx Quảng Yên;
- - Bị cáo; Cq THAHS tx Quảng Yên;
- - THA;
- - Lưu.
Bản án số 76/2024/HS-PT ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về hình sự (đánh bạc)
- Số bản án: 76/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lý Văn D cùng đồng phạm - Đánh bạc
