Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 76/2024/HS-PT

Ngày 15-8-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Phương

Các Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Hải Hà

Ông Hồ Minh Tấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nguyên là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thanh Mộng - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 61/2024/TLPT-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Cao Thanh S do có kháng cáo của bị hại đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2024/HS-ST ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.

Bị cáo (không có kháng cáo)

Họ và tên: Cao Thanh S, sinh năm 2000, tại Cà Mau; nơi cư trú: Ấp R, xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp làm Thuê; trình độ văn hóa 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Lương B và bà Trần Thị G; có vợ tên Trương Xuân T (đã ly hôn, là bị hại trong vụ án); con có một người sinh năm 2021; chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 26/12/2023 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Bị hại có kháng cáo: Chị Trương Xuân T; Sinh năm 2005; Nơi cư trú: Ấp M, xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau. Bị hại có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị hại Trương Xuân T và bị cáo Cao Thanh S quen biết và nảy sinh tình cảm vào khoảng cuối năm 2019. Đến tháng 02 năm 2020 bị cáo Cao Thanh S và bị hại Trương Xuân T đã quan hệ tình dục nhiều lần, lần đầu là tại nhà ông Cao Lương B (cha ruột của bị cáo Cao Thanh S), những lần tiếp theo diễn ra tại nhà ông Trương Hoàng T1 (anh ruột của bị hại Trương Xuân T) và nhà ông Cao Lương B tại xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau, những lần quan hệ tình dục cả hai đều tự nguyện. Vào ngày 14/12/2020, bị hại Trương Xuân T đi khám và phát hiện mang thai 24 tuần, nên bị hại nghỉ học và về chung sống với bị cáo Cao Thanh S tại nhà ông Cao Lương B. Đến ngày 04/4/2021 bị hại Trương Xuân T sinh con và đặt tên là Cao Đăng K. Đến ngày 18/01/2023 bị cáo Cao Thanh S và bị hại Trương Xuân T đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau. Trong quá trình chung sống do thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nên bị hại Trương Xuân T và bị cáo Cao Thanh S đã ly hôn theo Quyết định số: 21/2023/QĐCNTTLH ngày 29/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Ngọc Hiển.

Ngày 18/9/2023, bị hại Trương Xuân T có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo Cao Thanh S về hành vi “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” dẫn đến có thai và sinh con.

Tại Bản kết luận giám định độ tuổi trên cơ thể người sống số: 39/KLGĐĐT-TTPY ngày 10/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh C đã kết luận: Trương Xuân T có độ tuổi từ 18 năm 06 tháng đến 19 năm 00 tháng, tại thời điểm giám định là ngày 02/11/2023 và tại Bản kết luận giám định độ tuổi trên cơ thể người sống số: 50/KLGĐĐT- TTPY ngày 08/12/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh C đã kết luận bị cáo Cao Thanh S có độ tuổi từ 23 năm 00 tháng đến 23 năm 06 tháng, tại thời điểm giám định là ngày 06/12/2023. Tại Bản kết luận giám định số 7082/KL-KTHS ngày 15/11/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận: Bị cáo Cao Thanh S và bị hại Trương Xuân T là cha, mẹ ruột của Cao Đăng K. Từ đó xác định vào khoảng tháng 02/2020, khi bị cáo Cao Thanh S thực hiện hành vi quan hệ tình dục với bị hại Trương Xuân T lần đầu, bị hại có độ tuổi khoảng 14 tuổi 10 tháng và bị cáo có độ tuổi 19 tuổi 03 tháng. Vào khoảng cuối tháng 06/2020, khi bị hại Trương Xuân T mang thai, bị hại có độ tuổi khoảng 15 tuổi 02 tháng và bị cáo có độ tuổi khoảng 19 tuổi 07 tháng.

Quá trình điều tra, bị hại yêu cầu tiền bồi thường tổn thất về tinh thần: 18.000.000 đồng. Chi phí hợp lý bị mất, người nuôi trong thời gian phục hồi sức khoẻ, tiền xe, ăn uống, tiền thuốc khi sinh con là 20.000.000 đồng; Tiền cấp dưỡng nuôi con Cao Đăng K đến khi con đủ 18 tuổi là 216.000.000 đồng, tổng số tiền yêu cầu là 254.000.000 đồng. Tại phiên toà sơ thẩm, bị hại chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường tổn thất tinh thần với số tiền là 18.000.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường tổn thất về tinh thần theo yêu cầu của người bị hại.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2024/HS-ST ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau quyết định:

Căn cứ vào điểm a, d khoản 2 Điều 145; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 54 của Bộ luật Hình sự. Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 590 của Bộ luật dân sự;

  • - Xử phạt bị cáo Cao Thanh S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giam 26/12/2023.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Trương Xuân T được nhận số tiền 4.000.000 đồng tại biên lai thu tiền số: 0003431 ngày 08/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau; Buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường tiếp cho bị hại Trương Xuân T số tiền 14.000.000 đồng.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

2

Ngày 06/6/2024, bị hại Trương Xuân T kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử tăng nặng hình phạt đối với bị cáo Cao Thanh S và yêu cầu bị cáo bồi thường tổn thất tinh thần, danh dự, nhân phẩm, sức khỏe bị xâm phạm và các chi phí khác bằng tổng số tiền là 90.000.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại Trương Xuân T giữ y nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị hại; giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2024/HS-ST ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Kháng cáo của bị hại được thực hiện trong hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét về hành vi và tội phạm cho thấy: Qua kết quả xét xử sơ thẩm bị cáo Cao Thanh S đã thực hiện hành vi quan hệ tình dục nhiều lần với bị hại Trương Xuân T tại xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau. Căn cứ vào các kết quả giám định chứng minh tại thời điểm quan hệ tình dục lần đầu, bị cáo Cao Thanh S có độ tuổi khoảng 19 tuổi 03 tháng còn bị hại Trương Xuân T có độ tuổi khoảng 14 tuổi 10 tháng. Từ hành vi quan hệ tình dục giữa bị cáo và bị hại đã dẫn đến bị hại Trương Xuân T mang thai và sinh ra cháu Cao Đăng K được xác định là con ruột của bị cáo. Sau một thời gian chung sống thì bị cáo và bị hại đã đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nhưng do cuộc sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nên bị hại có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo Cao Thanh S vào ngày 18/9/2023, đến ngày 29/9/2023 bị cáo và bị hại đã được Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Quá trình thực hiện hành vi quan hệ tình dục tuy giữa bị cáo và bị hại đều tự nguyện nhưng thời gian này bị hại Trương Xuân T chưa đủ 16 tuổi và bị cáo đã trên 19 tuổi. Khi thực hiện hành vi bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Từ đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Cao Thanh S về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi” theo quy định điểm a, d khoản 2 Điều 145 của Bộ luật hình sự là đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của bị hại cho thấy:

Bị hại Trương Xuân T yêu cầu xét xử tăng mức hình phạt đối với Cao Thanh S do bị cáo Cao Thanh S không thể hiện sự ăn năn, cải hối, không thành khẩn khai báo. Tuy nhiên, ngoài kết quả điều tra đã thu thập thì bị hại Trương Xuân T cũng không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ gì thể hiện sự không ăn năn, cải hối của bị cáo Cao Thanh S.

Theo diễn biến vụ án cho thấy, bị cáo Cao Thanh S và bị hại Trương Xuân T quen biết nhau trên mối quan hệ tình cảm, yêu thương nhau rồi dẫn đến quan hệ tình dục. Sau khi bị hại mang thai, bị cáo đã đưa bị hại về chung sống trong gia đình cho đến khi sinh con rồi đủ điều kiện theo quy định thì bị cáo và bị hại đã đăng ký kết hôn. Do cuộc sống chung của vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và vợ chồng không thể tiếp tục cuộc sống chung nên đã ly hôn. Sau khi ly hôn, bị cáo vẫn thực hiện trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con theo quy định (cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng). Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bên cạnh đó bị cáo đã chủ động thực hiện hành vi khắc phục hậu quả xảy ra. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã có sự xem xét, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo và đã áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Cao Thanh S 01 năm 06 tháng tù là cân xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với kháng cáo của bị hại yêu cầu tăng mức bồi thường do tổn thất tinh thần, danh dự, nhân phẩm, sức khỏe bị xâm phạm và các chi phí khác tổng số tiền là 90.000.000 đồng. Bị hại Trương Xuân T cho rằng tại phiên tòa sơ thẩm bị hại chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường tổn thất về tinh thần bằng số tiền 18.000.000 đồng, nhưng sau khi xét xử thì bị hại xét thấy mức bồi thường trên chưa thỏa đáng nên kháng cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu do bị hại cung cấp và kết quả điều tra thu thập được đã chứng minh trong thời gian quen biết với bị cáo thì bị hại còn đi học, đến khi phát hiện mang thai thì bị hại thôi học và được bị cáo đưa về chung sống cùng gia đình bị cáo. Trong khoảng thời gian mang thai, sinh con bị cáo đã cùng gia đình lo mọi chi phí và chăm sóc cho bị hại. Bị hại cũng chỉ mang 01 thai nhi và sinh con thuộc trường hợp sinh thường, chi phí sinh con, nuôi con và các chi phí khác cũng do bị cáo chịu trách nhiệm chi trả. Đối với yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm của bị hại thì các khoảng thiệt hại này theo quy định của pháp luật được xác định không quá 10 lần mức lương cơ sở. Tại phiên toà sơ thẩm, bị hại Trương Xuân T chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường về tổn thất tinh thần với số tiền 18.000.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường tổn thất về tinh thần theo yêu cầu của người bị hại. Căn cứ vào các Điều 590, 592 của Bộ luật Dân sự và Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì thiệt hại xảy ra cho bị hại được bị cáo thống nhất bồi thường theo kết quả xét xử sơ thẩm là hoàn toàn thỏa đáng và có căn cứ pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại Trương Xuân T không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào khác để chúng minh về thiệt hại xảy ra.

Từ nhận định trên, không có căn cứ để chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị hại Trương Xuân T. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2024/HS-ST ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.

[4] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Bị hại Trương Xuân T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định chung.

Vì các lẽ trên,

4

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị hại Trương Xuân T. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2024/HS-ST ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.

2. Căn cứ vào điểm a, d khoản 2 Điều 145; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 54 của Bộ luật Hình sự; các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 584, 585, 590, 592 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

  • - Xử phạt bị cáo Cao Thanh S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi”. Thời hạn tù được tính từ ngày 26 tháng 12 năm 2023.
  • - Buộc bị cáo Cao Thanh S bồi thường thiệt hại tổn thất về tinh thần cho bị hại Trương Xuân T bằng số tiền 18.000.000 đồng. Trong đó, bị hại Trương Xuân T được nhận số tiền 4.000.000 đồng do gia đình bị cáo nộp khắc phục hậu quả cho bị cáo, tại biên lai thu tiền số: 0003431 ngày 08/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau. Bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho bị hại Trương Xuân T số tiền còn lại là 14.000.000 đồng.
  • Kể từ ngày bị hại Trương Xuân T có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong số tiền phải trả thì bị cáo Cao Thanh S còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
  • - Bị cáo Cao Thanh S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 700.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
  • - Bị hại Trương Xuân T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển;
  • - Công an huyện Ngọc Hiển;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hiển;
  • - Chi cục THADS huyện Ngọc Hiển;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Lưu: HSVA; Tòa HS; án văn;
  • - Lưu VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thế Phương

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/HS-PT ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về giao cấu với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi

  • Số bản án: 76/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Giao cấu với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 06/6/2024, bị hại Trương Xuân T kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử tăng nặng hình phạt đối với bị cáo Cao Thanh S và yêu cầu bị cáo bồi thường tổn thất tinh thần, danh dự, nhân phẩm, sức khỏe bị xâm phạm và các chi phí khác bằng tổng số tiền là 90.000.000 đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại Trương Xuân T giữ y nội dung kháng cáo.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger