|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 76/2024/HNGĐ-ST Ngày 15/5/2024 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Nhanh.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Tư;
- Bà Nguyễn Thị Kim Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thùy Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy.
Trong ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cai Lậy mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 603/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 51/2024/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Diễm H, sinh năm 1995, (có đơn xin vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Long An.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1991, (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai ghi ngày 13/11/2023, trong quá trình giải quyết vụ án chị Trần Thị Diễm H trình bày:
Chị và anh Nguyễn Minh T xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C. Thời gian đầu anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh T không lo làm ăn, thường xuyên nhậu nhẹt, không quan tâm chăm lo đến vợ con. Chị và anh T đã sống ly thân nhau từ cuối năm 2022 đến nay không hàn gắn được tình cảm. Nhận thấy, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn. Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị yêu cầu ly hôn với Nguyễn Minh T.
- - Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Minh T1, sinh ngày 08/3/2020. Khi ly hôn, chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do bận công việc không thể tham gia phiên tòa nên chị H có đơn xin được vắng mặt trong quá trình xét xử.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Minh T trình bày:
- - Về thời gian kết hôn, con chung như chị H trình bày là đúng. Nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh và chị H là do anh có nhậu nhẹt với bạn bè nên chị H không thích và bỏ đi Thành phố làm. Từ đó, anh và chị H đã sống ly thân nhau hơn một năm nay. Nay anh còn thương vợ con, mong muốn chị H cho anh cơ hội để sửa chữa lỗi lầm, hàn gắn tình cảm.
- - Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Minh T1, sinh ngày 08/3/2020. Nếu trường hợp Tòa án cho ly hôn thì anh đồng ý giao con chung cho chị H nuôi dưỡng, anh không phải cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ lời trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị H có đơn yêu cầu ly hôn với anh T, bị đơn anh T cư trú tại ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Do đó, quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là “Tranh chấp ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa, anh T vắng mặt lần thứ 2 mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ; đồng thời chị H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[3] Xét yêu cầu xin ly hôn của chị H là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận, bởi lẽ:
3.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã T, huyện C cấp giấy chứng nhận kết hôn số 78 vào ngày 21/8/2019, được xem là hôn nhân hợp pháp.
Căn cứ vào lời khai của chị H thì sau khi kết hôn, chị và anh T chung sống hạnh phúc được một thời gian, sau đó anh chị bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã nhau và sống ly thân từ cuối năm 2022 đến nay vẫn không hàn gắn được tình cảm. Anh chị không còn liên lạc và quan tâm cuộc sống của nhau nữa, chứng tỏ giữa chị H và anh T đã không còn tình cảm vợ chồng, việc kéo dài hôn nhân sẽ không mang lại hạnh phúc cho cả hai.
Theo quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau.....”. Do đó, việc chị H và anh T thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn với nhau, sống ly thân trong thời gian dài, cho thấy hôn nhân giữa hai người đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được.
Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho anh T, mở phiên hòa giải nhiều lần có mặt chị H để hàn gắn mâu thuẫn cho các bên nhưng anh T vắng mặt không lý do và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình về việc ly hôn, từ đó cho thấy anh T không có ý định hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị H. Do đó, chị H yêu cầu xin ly hôn với anh T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
3.2. Về con chung: Quá trình chung sống, chị H và anh T có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Minh T1, sinh ngày 08/3/2020. Xét thấy, từ khi chị H và anh T sống ly thân thì cháu T1 sống với chị H, cuộc sống sinh hoạt đã ổn định. Anh T cũng đồng ý giao con chung cho chị H nuôi dưỡng nếu Tòa án giải quyết cho anh chị ly hôn. Vì vậy, chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1 là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
3.3. Về cấp dưỡng: Chị H chưa yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3.4. Về tài sản chung, nợ chung: Chị H và anh T khai không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Về án phí: Chị H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Diễm H.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị Diễm H được ly hôn với anh Nguyễn Minh T.
- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Ngọc Minh T1, sinh ngày 08/3/2020 cho chị Trần Thị Diễm H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Trần Thị Diễm H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002083 ngày 23/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang nên chị H đã nộp xong án phí.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Anh Nguyễn Minh T được quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được quyền ngăn cản.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Phạm Thị Mỹ Nhanh |
Bản án số 76/2024/HNGĐ-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 76/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Diễm H. 1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị Diễm H được ly hôn với anh Nguyễn Minh T.
