Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CÀ MAU,

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 76/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 15-4-2024

V/v “Tranh chấp nam, nữ chung sống

với nhau như vợ chồng mà không đăng

ký kết hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Thanh Quốc

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Trọng Tâm

Ông Nguyễn Hoàng Kha

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Bích Như, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Trong ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau. Xét xử sơ thẩm vụ án dân sự tranh chấp hôn nhân gia đình thụ lý số: 136/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2024 về việc "Tranh chấp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Diếp Thị Ảnh E, sinh năm: 1992. Địa chỉ cư trú: Nhà không số đường P, khóm 2, phường 9, thành phố C, tỉnh C, (có mặt).

Bị đơn: Anh Nguyễn Phạm Thế A, sinh năm: 1982. Địa chỉ cư trú: Số 336, đường P, khóm 2, phường 9, thành phố C, tỉnh C, (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Thế A chung sống với nhau năm 2013, không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu ly hôn với anh Thế A.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thế An, sinh ngày 16/3/2015 và Nguyễn Thiên Ân, sinh ngày 25/02/2019. Khi ly hôn, chị thống nhất giao Nguyễn Thế An cho anh Thế A trực tiếp nuôi, chị trực tiếp nuôi Nguyễn Thiên Ân, không đặt ra trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con.

Hiện tại chị có việc làm và thu nhập ổn định, khoảng 10.000.000 đồng/tháng nên đủ điều kiện kinh tế trực tiếp nuôi cháu Ân.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị xác định không có.

Trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa bị đơn trình bày:

Về hôn nhân: Về thời gian chung sống, không có đăng ký kết hôn và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng đúng như chị Ảnh E trình bày. Nay chị Ảnh E yêu cầu ly hôn, anh đồng ý.

Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thế An, sinh ngày 16/3/2015 và Nguyễn Thiên Ân, sinh ngày 25/02/2019. Khi ly hôn anh yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con, không yêu cầu chị Ảnh E cấp dưỡng. Hiện tại anh có việc làm và thu nhập ổn định, khoảng 15.000.000 đồng/tháng nên đủ điều kiện kinh tế trực tiếp nuôi các con.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh xác định không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Ảnh E và anh Thế A chung sống với nhau và không có đăng ký kết hôn. Do đó quan hệ hôn nhân của anh chị đã vi phạm về việc đăng ký kết hôn được quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình nên hôn nhân của anh chị không có giá trị pháp lý. Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân của chị anh không đăng ký kết hôn nên không được công nhận anh chị là vợ, chồng.

[2] Về con chung: Khi ly hôn, chị Ảnh E yêu cầu trực tiếp nuôi cháu Ân, giao cháu An cho anh Thế A trực tiếp nuôi, trong khi đó anh Thế A có yêu cầu trực tiếp nuôi 02 con, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về điều kiện kinh tế: Tại phiên tòa cả nguyên và bị đơn thừa nhận và thống nhất cả 02 điều có việc làm và thu nhập ổn định. Do đó, nếu xét về điều kiện kinh tế thì cả anh chị điều đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con.

Hiện nay, đối với cháu An, anh Thế A có nguyện vọng trực tiếp nuôi, chị Ảnh Em cũng thống nhất việc này và phù hợp với nguyện vọng của cháu An nên giao cháu An cho anh Thế A trực tiếp nuôi là có căn cứ.

Đối với cháu Ân, hiện nay cháu còn nhỏ nên rất cần sự chăm sóc đặc biệt từ người mẹ. Mặc khác, do đã giao cháu An cho anh Thế A trực tiếp nuôi nên việc giao cháu Ân cho mẹ trực tiếp nuôi là phù hợp.

Các đương sự không đặt ra trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về tài sản chung: Anh chị xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[4] Về nợ chung: Anh chị xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí: Chị Ảnh Em phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ các Điều 9, 14, 53, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
  • - Khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Diếp Thị Ảnh E và anh Nguyễn Phạm Thế A.
  2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thiên Ân, sinh ngày 25/02/2019 cho chị Diếp Thị Ảnh E trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Nguyễn Thế An, sinh ngày 16/3/2015 cho anh Nguyễn Phạm Thế A trực tiếp nuôi dưỡng. Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung không ai cản trở.
  3. Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  4. Về nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  5. Về án phí: Chị Ảnh Em phải chịu án phí hôn nhân và gia đình 300.000 đồng, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0008201 ngày 06/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND Tp. Cà Mau;
  • - UBND xã IaPhìn, huyện Chưprông, tỉnh Gia Lai;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đã ký

Trương Thanh Quốc

3

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/HNGĐ-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

  • Số bản án: 76/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào: - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; - Căn cứ các Điều 9, 14, 53, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; - Khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Tuyên xử: 1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Diếp Thị Ảnh E và anh Nguyễn Phạm Thế A. 2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thiên Ân, sinh ngày 25/02/2019 cho chị Diếp Thị Ảnh E trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Nguyễn Thế An, sinh ngày 16/3/2015 cho anh Nguyễn Phạm Thế A trực tiếp nuôi dưỡng. Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung không ai cản trở. 3. Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. 4. Về nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. 5. Về án phí: Chị Ảnh Em phải chịu án phí hôn nhân và gia đình 300.000 đồng, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0008201 ngày 06/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger