|
TANDTP. PHAN THIẾT CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BÌNH THUẬN *** |
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc *** |
Bản án số: 76/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 14/8/2023.
V/v tranh chấp: “Ly hôn,
Nuôi con chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Xuân – Thẩm phán.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lưu Thị Thôi.
- Ông Nguyễn Bính .
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa:
Bà Huỳnh Nhã Uyên – Kiểm sát viên.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Giang Ngọc Hà – Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.
Ngày 14 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 338/2023/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 306/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: Ông Lê Thanh T, sinh năm 1990. Có mặt
Địa chỉ thường trú: Thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
*Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc P, sinh năm: 1990. Vắng mặt.
Địa chỉ thường trú: Khu phố G, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 15/6/2023, bản tự khai, và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn Ông Lê Thành T1 trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị Ngọc P tự nguyện tìm hiểu, yêu thương, tổ chức cưới và có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 73, ngày 11/7/2018 của UBND thị trấn P, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu, đến khoảng năm 2022 trở về sau này vợ chồng ông bà thường xuyên mâu thuẫn cãi vã, do bất đồng quan điểm, đã nhiều lần ông cố gắng hòa giải để đảm bảo hạnh phúc gia đình nhưng ông bà vẫn tiếp tục mâu thuẫn. Nay ông xác định mâu thuẫn vợ chồng là trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn nên ông yêu cầu tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Nguyễn Thị Ngọc P.
1
Về con chung: Vợ chồng ông, bà có 01 con chung tên: Lê Phúc T2 (N) sinh ngày 18/9/18 ông có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung sau ly hôn. Ông không yêu cầu bà Phước phải trợ cấp nuôi con chung.
Về tài sản chung: Ông sẽ tự thỏa thuận với bà Phước, không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung.
Về nợ chung: Ông khai không có nợ chung.
Về án phí: Ông sẽ chịu án phí theo quy định pháp luật.
* Ý kiến Bị đơn: Tại biên bản lấy lời khai ngày 13/7/2023 bà Nguyễn Thị Ngọc P trình bày: Bà và ông Lê Thành T1 là vợ chống hợp pháp chung sống có đăng ký kết hôn; Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm và hiện ông bà đã không còn chung sống với nhau được khoảng 08 tháng ; Nay bà xác định mâu thuẫn vợ chồng ông bà là trầm trọng, không thể hòa giải hàn gắn được do vậy bà đồng ý ly hôn, nhưng đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Về con chung : Bà đồng ý giao con chung duy nhất tên Lê Phúc T2 (N) sinh ngày 18/9/2018, cho ông T1 trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn. Bà không phải trợ cấp nuôi con chung. Về tài sản chung : Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết ; Về nợ chung : Bà khai không có nợ chung.
*Tòa án đã tiến hành mở phiên hòa giải nhưng do bị đơn vắng mặt và từ chối hòa giải, nên không hòa giải được.
*Tại phiên tòa Kiểm sát viên đã phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và đề xuất ý kiến về việc giải quyết nội dung vụ án như sau:
[1]Việc tuân theo thủ tục tố tụng:
-Về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng: Thẩm phán, Thư ký đã chấp hành đúng quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn mở phiên tòa, tuân thủ đúng việc gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu và đã thực hiện việc cấp tống đạt, niêm yết văn bản tố tụng đúng theo quy định Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015; Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tuân thủ đúng quy định về trình tự thủ tục phiên tòa sơ thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Nguyên đơn đã nộp tạm ứng án phí và chấp hành, thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Bị đơn đã được giao các văn bản tố tụng đúng quy định pháp luật nhưng đề nghị xét xử vắng mặt, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là đúng với quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Ý kiến giải quyết về nội dung vụ án:
-Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Thành T1 và bà Nguyễn Thị Ngọc P là vợ chồng có đăng ký kết hôn hợp pháp. Nay ông T1 xác định không còn tình cảm với bà Phước nên yêu cầu ly hôn. Bà Phước có đơn yêu cầu không hòa giải đề nghị xét xử vắng mặt và cũng đồng ý ly hôn với ông T1, như vậy hôn nhân của ông bà đã
2
lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, do vậy đề nghị Tòa án áp dụng điều 51, 53 Luật Hôn nhân Gia đình 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông T1 được ly hôn với bà Phước;
-Về con chung: Đề nghị Tòa chấp nhận yêu cầu nguyên đơn giao cả con chung Lê Phúc T2, sinh ngày 18/9/2018 cho ông T1 trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn, về cấp dưỡng nuôi con chung ông T1 không yêu cầu nên không xét.
-Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết do vậy đề nghị Tòa không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên toà, căn cứ vào ý kiến của nguyên đơn, ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
* Về thủ tục tố tụng:
[1]Theo đơn khởi kiện và tài liệu kèm theo do nguyên đơn cung cấp thì bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc P thường trú tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Do vậy vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thành phố P, theo quy định tại khoản 01 điều 28, điểm a khoản 01 điều 35, điểm a khoản 01 điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
[2] Bị đơn – Bà Nguyễn Thị Ngọc P có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử sơ thẩm vắng mặt bị đơn theo qui định tại khoản 01 điều 227 và khoản 01 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
*Về giải quyết nội dung tranh chấp trong vụ kiện:
[1]Về quan hệ hôn nhân: Xét quan hệ hôn nhân giữa ông Lê Thành T1 và bà Nguyễn Thị Ngọc P là hợp pháp, vì ông bà có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 73, ngày 11/7/2018 của UBND thị trấn P, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Nguyên đơn và bị đơn đều khai vợ chồng ông bà đã không còn chung sống với nhau từ một năm do mâu thuẫn bất đồng quan điểm, vợ chồng đã không còn quan tâm, không còn tình cảm và đều đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn;
Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương chung sống, chia sẻ và giúp đỡ nhau trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, tuy nhiên ông T1 và bà Phước hiện nay đã không còn chung sống với nhau. Như vậy chứng tỏ: Mâu thuẫn vợ chồng ông bà là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài. Do vậy Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại khoản 01 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.
[2]Về con chung: Vợ chồng ông, bà có 01 con chung tên: Lê Phúc T2 (Nam) sinh ngày 18/9/2018, ông T1 có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung sau ly hôn. Ông T1 không yêu cầu bà Phước phải trợ cấp nuôi con chung.
Xét thấy ông Lê Thanh T có đầy đủ sức khỏe và khả năng lao động, hoàn toàn đủ điều kiện để chăm sóc giáo dục con chung, hiện nay ông T cũng đang trực tiếp
3
nuôi dưỡng con chung, do vậy để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu T2, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nguyên đơn giao con chung Lê Phúc T2 cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn. Ông T hiện không yêu cầu bà Phước phải trợ cấp nuôi con chung, nên tòa không xét.
[4] Về tài sản chung: Các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.
[5] Về nợ chung: Các đương sự khai không có nợ chung, do vậy Tòa không xét.
[6] Về án phí: Ông Lê Thanh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình theo quy định tại khoản 04 điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Tiền tạm ứng án phí 300.000đ, do ông T nộp tại biên lai số 0018450 ngày 21/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết sẽ được chuyển thành án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1/Căn cứ: Điều 51, Điều 53, khoản 01 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án; Luật thi hành án dân sự.
2/ Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông Lê Thanh T được ly hôn với bà Nguyễn Thị Ngọc P;
- Về con chung: Vợ chồng ông, bà có 01 con chung tên: Lê Phúc T2 (N) sinh ngày 18/9/2018.
Tuyên buộc bà Nguyễn Thị Ngọc P phải giao con chung Lê Phúc T2 (Nam) sinh ngày 18/9/2018, cho ông Lê Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn.
Bà Nguyễn Thị Ngọc P và ông Lê Thanh T đều có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, sau ly hôn. Không ai được quyền cản trở, gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
- Về tài sản chung: Các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét.
- Về nợ chung: Các đương sự khai không có nợ chung, nên Hội đồng xét xử không xét.
3/ Về án phí: Ông Lê Thanh T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình. Tiền tạm ứng án phí 300.000đ, do ông T nộp tại biên lai số 0018450 ngày 21/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết, sẽ được chuyển thành án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình. Ông T đã nộp xong án phí.
4
Án xử công khai nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa. Quyền kháng cáo bản án của nguyên đơn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14/8/2023) ; Quyền kháng cáo bản án của Bị đơn là 15 ngày kể từ ngày được niêm yết hoặc tống đạt bản án.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Như Xuân |
5
Bản án số 76/2023/HNGĐ-ST ngày 14/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 76/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, Nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông T và bà P đã ly thân nhiều năm nên chấp nhận cho ly hôn
